Phạm Quỳnh
Lời dẫn của Phạm Tôn: Chúng tôi xin mời các bạn đọc bài Bàn
về quốc học của Phạm Quỳnh đăng trên báo Nam Phong số 163, tháng
6 năm 1931 để hiểu rõ hơn tư tưởng yêu nước, cứu nước của ông. Bài này viết năm
1931, năm cuối cùng ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bútNam Phong.
Để các bạn tiện theo dõi, chúng tôi chia bài ra làm hai phần
và mạo muội theo thiển ý ghi chú sau mỗi từ nay ít thông dụng. Bài viết đã cách
nay 80 năm rồi còn gì… Có gì sai sót, mong các bạn chỉ bảo cho để chúng tôi kịp
thời sửa chữa. Xin cảm ơn các bạn.
*
* *
Cái học của Đông phương vẫn có cái bản chất phong phú,
cái tinh thần thâm trầm thật, nhưng chính là thiếu mất cái quan niệm về khách
quan, không quen biết sự đích xác là gì. Nay há lại không thể đem cái hình thức
của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật Đông phương được
dư?
(Lời của một nhà phê bình Pháp).
Nước Nam ta có một nền quốc học chân chính không?
Câu hỏi đó gần đây đã làm đầu đề cho một cuộc tranh luận rất
thú vị. Ông Lê Dư trong báo Đông Tây ở Hà Nội thì quyết rằng có, ông
Phan Khôi trong báo Phụ Nữ ở Sài Gòn thì quyết rằng không.
Quốc học không phải là một vật có thể giấu giếm đi được, hay
là cần phải tìm tòi mới ra. Nếu quả có thật thì nó sờ sờ rõ rệt ra đó, ai còn
chối được, mà phải đến người nọ nói có, người kia nói không! Sở dĩ phải khởi ra
câu hỏi đó, đủ biết rằng nếu nước ta đã từng có một nền quốc học, thì cái quốc
học ấy cũng là nhỏ nhen eo hẹp, không có gì đủ đem khoe với thiên hạ.
Nay chứng xét lịch sử, thấy quả như vậy. Nước Nam ta mấy
mươi thế kỷ theo học nước Tàu, chỉ mới là một người học trò khá, chưa hề thấy
dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng. Không những thế, lại cũng thường
không lọt được ra ngoài vòng “giáo khoa” mà bước lên tới cõi “học thuật” nữa.
Như vậy thì làm sao cho có quốc học được?
Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có;
nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi,
phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ
độc lập một “nhà” đối với các “nhà” khác, như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa.
Hay thảng hoặc cũng có mà mai một đi mất, sử sách không truyền chăng? Nhưng
phàm đã gọi là một cái học phái thì phải có cảm hóa người ta sâu xa, phải có ảnh
hưởng trong xã hội, phải gây ra một cái phong trào tư tưởng, không thể tịch mịch
ngay đi mà không còn tăm hơi gì nữa. Cho nên dầu nay kê cứu trong các sách cổ,
tìm kiếm ra được năm ba cái ý kiến lạ hay cái tư tưởng kỳ của một vài bậc tiền
bối lỗi lạc, như vậy cũng chưa đủ chứng rằng nước ta có quốc học đặc biệt với
cái học cố hữu của bên Tàu truyền sang.
Ngay cái học mượn của người đó, ta học cũng chửa đến nơi.
Nhà nho ta, ngoài mấy bộ kinh truyện là sách giáo khoa của phái Khổng Mạnh, mấy
ai đã từng thiệp liệp (biết đủ cả mà không tinh thông gì) đến bách gia chư tử.
Ai đã từng nghiên cứu đến học thuyết họ Mặc họ Dương, đến Lão, Trang, đến Phật
học? Ngay trong Nho giáo, cũng chỉ biết đến Tống nho là cùng, còn Minh nho thì
mang nhiên (không biết gì cả) không hiểu chi hết. Như Vương Dương Minh phản đối
cái Nho học hẹp hòi của các thầy nhà Tống mà phát minh ra một cái thuyết mới có
ý vị thâm trầm hơn, ở nước ta hầu như không ai biết đến. Ở Nhật Bản thì phái
Vương học lại thịnh hành lắm, không những có ảnh hưởng trong học giới, mà lại
tiêm nhiễm cả phong tục, có người cho là cái võ sĩ đạo của nước ấy chính sở đắc
ở Vương học nhiều. Nhật Bản cũng là học trò của Tàu, cũng mô phỏng văn hóa của
Tàu trong mấy mươi đời, nhưng họ biết lựa lọc kén chọn, họ không có phóng chép
một cách nô lệ như mình. Cho nên tuy về đường tư tưởng học thuật họ vẫn chịu ảnh
hưởng của Tàu nhiều, nhưng họ cũng có một nền quốc học của họ, dầu không được rực
rỡ cho lắm, mà vẫn có đặc sắc khác người.
Đến như ta thì khác hẳn. Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về
một phương diện cử nghiệp, là cái học rất thô thiển, không có giá trị gì về nghĩa
lý tinh thần cả. Mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc
tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ nữa.
Dầu thế nào mặc lòng, người phụng sự cái chủ nghĩa quốc gia,
đoái nhìn lại cõi học của nước nhà, thấy vắng vẻ tịch mịch, không khỏi rầu lòng
mà lấy làm than tiếc. Gặp những lúc trong lòng bối rối, trong trí băn khoăn, mở
đống sách cũ của tiền nhân để lại, muốn tìm kiếm lấy một vài cái tư tưởng hoặc
cái học thuyết gì thiết tha thâm trầm đủ đem ra đối phó với đời, thì chỉ thấy
các cụ ngâm hoa vịnh nguyệt, lập lại mấy câu sáo cũ của người Tàu, ôn lại những
bài học cũ từ xưa đến giờ, không khám phá được điều gì mới lạ về vũ trụ nhân
sinh cả, thật lấy làm thất vọng vô cùng.
Nói thế không phải là bội bạc với tiền nhân, nhưng sự thật
thế nào ta phải công nhận như thế. Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham
học, nhưng cả nước ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ cùng nhau
ôn lại mấy quyển giáo khoa cũ, hết năm ấy đến năm khác, già đời vẫn không khỏi
cái tư cách làm học trò! Ấy cái tình trạng sự học ở nước ta từ xưa đến nay và
hiện ngay bây giờ cũng vẫn thế. Vì ta đừng tưởng rằng cái tâm lý học trò đó,
ngày nay ta đã gột rửa được sạch đi đâu. Xưa kia học sách Tàu thì làm học trò
Tàu, ngày nay học sách Tây cũng chỉ làm học trò Tây mà thôi. Duy có khác là cái
nghiệp làm học trò Tàu thì đã kinh quá mấy mươi đời, mà cái kết quả “tiêu cực”
của nó đã rành rành ra đó; còn cái nghiệp làm học trò Tây thì mới trên dưới năm
sáu mươi năm mà thôi, còn có thể mong rằng sau này có lẽ thành được cái kết quả
“tích cực” chăng. Song cứ xem gương như bây giờ, thì cũng không lấy gì làm vui
lòng cho lắm: xét những tay xuất sắc trong làng Tây học, phần nhiều cũng còn
chưa thoát được cái tâm lý học trò đó; bọn đàn anh khi xưa thì dặm lại mấy câu
sáo cũ của Tàu, bọn đàn em bây giờ cũng lại dặm lại mấy câu sáo mới của Tây đó
mà thôi, chưa mấy ai là rõ rệt có cái tư cách, – đừng nói đến tư cách nữa, hẳn
có cái hy vọng mà thôi, – muốn độc lập trong cõi học vấn tư tưởng cả.
Như vậy thì ra giống ta chung kiếp (suốt đời) chỉ làm nô lệ
về đường tinh thần hay sao? Hay là tại thần trí của ta nó bạc nhược quá, không
đủ cho ta có cái óc tự lập? Hay là bởi những duyên cớ gì khác nữa?
Cái đó cần phải xét cho tường.
Từ xưa đến nay, nước ta quả không có quốc học thật. – Bởi tại
làm sao?
Từ nay về sau, ta có thể gây được một nền quốc học không? –
Phải làm thế nào?
Tuy nói quốc học ai cũng hiểu rồi, song cũng nên định nghĩa
qua cho khỏi lầm. Quốc học là gồm những phong trào về tư tưởng học thuật trong
một nước, có đặc sắc khác với nước khác, và có kết tinh thành ra những sự nghiệp
trước tác, lưu truyền trong nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy.
Cứ nghĩa tuyệt đối thì không nước nào hẳn có quốc học đặc biệt,
nghĩa là tự mình gây dựng ra, không phải nhờ mượn của người, trừ ra mấy nước tổ
văn minh trong thế giới như Tàu, ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp không kể.
Nhưng cứ nghĩa tương đối thì mỗi dân tộc hấp thụ được cái
văn minh học thuật của ngoài, tất có biến hóa theo tinh thần riêng của mình, mà
thành hẳn của riêng mình. Bởi thế nên nước Pháp, nước Anh, nước Đức, v.v
, tuy về đời trước thời
nguồn gốc vẫn là do ở Hy Lạp, La Mã mà ra, mà về sau thời thường chịu ảnh hưởng
lẫn của nhau nhiều, nhưng nước nào cũng có cái văn minh học thuật riêng của nước
ấy, không giống với các nước kia; học thuật riêng đó, tức là quốc học của mỗi
nước. Như nước Nhật ở Á Đông ta cũng vậy, thật là “con tinh thần” (fils
spirituel) của nước Tàu, đồng văn đồng hóa với Tàu, nhưng vẫn có một cái lối học
riêng của họ, tuy cũng xuất ở Tàu mà ra, mà có cái đặc sắc khác với Tàu, có thể
gọi là quốc học của Nhật Bản được.
Đến như ta thì mượn cái học của người mà không hóa được theo
tinh thần của mình, không gây được thành một nền quốc học cho mình, là bởi cớ
sao vậy?
Nói rằng vì giống mình kém hèn hẳn, thì có lẽ phụ cái óc
thông minh của các cụ đời trước, và cũng không đúng với sự thật chăng. Nhưng nói
rằng vì tình thế khiến nên mà sau tạo thành một cái tâm lý riêng không lợi cho
sự học vấn tư tưởng tự do, thì có lẽ đúng hơn.
Tình thế ấy thuộc về địa lý, thuộc về lịch sử, lại cũng thuộc
về chính trị nữa.
Thuộc về địa lý là nước ta tiếp cận ngay với nước Tàu, đối với
Tàu, dầu sau khi ta độc lập rồi, vẫn coi như một nước phụ dung (phụ thuộc), một
nước phiên thuộc (nước chư hầu). Ta chỉ là một bộ phận trong cái thế giới
Chi-na mà thôi. Thông tục thường có câu: Nước Tàu như cái áo, nước ta như cái
giải. Thật thế: nước ta – nhất là xứ Bắc Kỳ là nơi phát tích của nước ta, – chẳng
qua là một tỉnh Quảng Đông lạc về phía nam mà thôi, người dân vốn cũng là một
giống trong các giống Bách Việt như người Quảng Đông, nhờ đất liền nên sự giao
thông lại càng thân mật lắm. Người Tàu tiện đường tràn sang nước ta, hoặc bằng
cách chiến tranh, hoặc bằng cách hòa bình, cứ luôn luôn, hết đời ấy sang đời
khác, không hồi nào là không. Cho nên nước ta, dầu có biệt lập thành nước,
nhưng về đường địa lý vẫn là tùy thuộc nước Tàu. Khác với Nhật Bản, là một đảo
quốc cách biển, người Tàu không trực tiếp sang được, nên không bị xâm lấn bao
giờ. Có giữ được độc lập về thổ vũ (lãnh thổ), mới giữ được độc lập về tinh thần.
Thuộc về lịch sử thì sự quan hệ của ta với Tàu lại mật thiết
hơn nữa. Giống Giao Chỉ ta, từ khi mới thành bộ lạc đã bị người Tàu thống trị rồi.
Trong mười thế kỷ, ta sống ở trong vòng khuôn nước Tàu, không khác gì như một bộ
phận của Tàu vậy. Đến khi lập thành nước, từ thế kỷ thứ 10, thì cái dấu vết của
người Tàu đã hình như in sâu vào trong trí não ta rồi. Tự bấy giờ tiếng gọi là
một nước, được độc lập về đường chính trị, nhưng nào đã hoàn toàn độc lập đâu,
chỉ những lo lắng, những khó nhọc, những chật vật đối với cái nước láng giềng mạnh
kia nó chỉ lăm le định tràn sang mà chiếm lấy mình, mà thật nó cũng đã tràn
sang đến mấy mươi lần, lần nào mình cũng cực khổ, dùng hết nỗ lực mới đuổi nó
đi được. Thành ra cả cuộc lịch sử của nước Nam ta là một cuộc chiến đấu vô hồi
vô hạn đối với người Tàu, hoặc bằng võ lực, hoặc bằng ngoại giao, hằng ngày chỉ
nơm nớp sợ lại bị nội thuộc lần nữa. Cái công của các tiên dân (người xưa) ta
chống giữ cho non sông đất nước nhà, can đảm vô cùng, kiên nhẫn vô cùng, thật
là đáng cảm phục. Nhưng cả tinh lực trong nước đều chuyên chú về một việc cạnh
tranh để sinh tồn đó, cạnh tranh với một kẻ cường lân (láng giềng mạnh) hằng
ngày nó đàn áp, để cố sinh tồn cho ra vẻ một nước độc lập, thì còn có thời giờ
đâu, còn có dư sức đâu mà nghĩ đến việc khác nữa. Cái quan niệm quốc gia bị
nguy hiểm luôn nên thường lo sợ luôn, chiếm mất cả tâm tư trí lự, không còn để
thừa chỗ cho những quan niệm khác về văn hóa, về mỹ thuật gì nữa. Nói riêng về
học thuật thì đã sẵn cái học của Tàu đó, tiêm nhiễm vào sâu từ thuở mới thành
dân thành nước, không thể tưởng tượng rằng ngoài sách vở của thánh hiền còn có
nghĩa lý gì khác nữa; sau đời Lý đời Trần là hồi Phật học còn thịnh hành, rồi
chỉ độc tôn có một phái Nho học cho là đạo chính truyền, ngoại giả không dám có
tư tưởng gì khác, sợ bị mang tiếng là “dị đoan”. Cái lệ “con chiên” theo đạo nước
người thường hay “ngoan đạo” hơn là chính người nước phát hành ra cái đạo ấy.
Thường nghiệm người Nam mình theo đạo Gia-tô lại mộ đạo hơn người Tây nhiều.
Xưa kia theo đạo Nho có lẽ cũng sùng đạo hơn người Tàu vậy. Vả lại học thuật mà
đã dính có tính cách tôn giáo thì không thể sao tấn tới được nữa. Không những ở
nước ta, ở ngay nước Tàu cũng vậy: từ khi cái học của Khổng Mạnh, trước bị Hán
nho, rồi sau đến Tống nho, lập thành đạo có tín điều, có giáo lý, có lễ nghi
hình thức phân minh, thời không phải là học thuật nữa, mà nghiễm nhiên thành
tôn giáo rồi. Người theo đạo đâu có dám nghị luận về lẽ đạo nữa. Nếu còn dám dị
nghị điều gì, hay là ăn ở khác với lẽ đạo, thì là có tội với danh giáo, ắt phải
trục xuất ra ngoài giáo hội rồi!
Thuộc về chính trị thì cái tình thế cũng khốn nạn như vậy.
Nho học lợi cho cái chính thể quân chủ chuyên chế, nên các đế vương nước ta lại
càng tôn sùng lắm. Đời Lý đời Trần, cái phong trào Phật học còn thịnh, nên nhân
tài trong nước, thường thường vẫn có người xuất ở trong hàng tăng lữ. Tự cuối
Trần đầu Lê trở về sau, thì bao nhiêu nhân tài là đúc theo cái khuôn khoa cử của
Nho giáo cả. Cái chế độ khoa cử thật là một cái quà rất hại mà nước Tàu đã tặng
cho ta. Ở ngay bên Tàu nó đã hại mà sang đến ta cái độc của nó lại gấp mấy lần
nữa. Bao nhiêu kẻ anh tuấn trong nước đều phải đúc vào cái khuôn ấy cả, nếu
không thì không thể ra thi thố gì với đời được nữa. Nhưng đã đúc vào cái khuôn ấy
rồi thì thần trí eo hẹp lại sao mà còn có tư tưởng, có học vấn tự do được nữa.
Người Nhật Bản họ hơn mình chính là vì họ không mắc phải cái vạ khoa cử như
mình. Họ bắt chước cái gì của Tàu thì bắt chước, chớ đến cái lối khoa cử thì họ
không chơi. Đời Đức Xuyên (Tokugawa) cũng đã có một hồi thi hành cái chế độ hãm
hại nhân tài, nô lệ thần trí đó, nhưng mà sĩ phu trong nước họ không chịu, nên
cũng không thể bền được. Ở nước ta thì đến năm sáu trăm năm sinh trưởng trong
cái chế độ ấy, trách nào cái khí tinh anh trong nước chẳng đến tiêu mòn đi hết
cả. Ở Văn Miếu Hà Nội còn mấy dãy bia kỷ niệm các cụ đỗ tiến sĩ về đời Hậu Lê;
trong đó chắc có nhiều bậc nhân tài lỗi lạc, nhưng vì mài miệt về đường khoa cử,
nên đều mai một mất cả, tên còn rành rành trên bia đá đó, mà có sự nghiệp về đường
học vấn tư tưởng được những ai?
Nói tóm lại thời địa lý, lịch sử, chính trị đều như hiệp sức
nhau lại mà gây cho nước ta một cái tình thế rất bất lợi cho sự học vấn tư tưởng.
Bao nhiêu những người khá trong nước đều bị cái tình thế ấy nó áp bách trong mấy
mươi đời, nên lần lần tập thành một cái tâm lý riêng, là cái tâm lý ỷ lại vào
người, chớ không dám tự lập một mình; trong việc học vấn thì cái tâm lý ấy tức
như trên kia gọi là cái tâm lý làm học trò suốt đời vậy. Nước ta ở ngay cạnh
nách nước Tàu, từ hồi ấu trĩ cho đến lúc trưởng thành đều núp bóng nước Tàu mà
sinh trưởng cả, khác nào như một cái cây nhỏ mọc bên cây lớn, bị nó “cớm” không
thể nào nẩy nở ra được.
Nhưng trước kia mọc dưới bóng cây “đa” phương Đông, đã bị “cớm”
mà không lên cao được, chỉ sợ nay mọc dưới bóng cây “sên” phương Tây, cũng lại
bị “cớm” mà cằn cọc hẳn lại, thì thôi, còn mong mỏi gì nữa!
Song nay ta đã tỉnh ngộ rồi, thì ta nên kíp tìm phương bổ cứu.
Mới đây tôi có viết một bài luận bằng Pháp văn đăng trong
báo Tây nói về sự đồng hóa (Bài ấy nguyên văn chữ Pháp có lục đăng vào phần Phụ
trương kỳ Nam Phong trước, kỳ này đăng bản dịch ra quốc ngữ ở ngay
sau đây). Tôi nói rằng đồng hóa có nhiều cách: có cách đồng hóa đến không còn cốt
cách tinh thần gì của mình nữa, mà biến hẳn theo người; có cách đồng hóa lấy những
cái hay của người mà vẫn giữ được cốt cách tinh thần của mình, lại bồi bổ vào
cho mạnh mẽ thêm lên. Cách đồng hóa trên là cách ta đồng hóa với Tàu ngày xưa
đó, kết quả đến ngày nay anh em ta phải than rằng nước ta không có quốc học.
Gương trước còn đó, ta phải soi đấy mà liệu đường đi sau này. Nếu ngày nay ta lại
đồng hóa theo Tây như ngày xưa đồng hóa theo Tàu, thì giả sử có thành công nữa
cũng phải đến mấy mươi đời, mà rốt cuộc lại cũng chỉ thành một bản phóng mờ của
nước Pháp, chớ chẳng có tinh thần cốt cách gì cả. Rồi hai trăm, ba trăm năm về
sau này, lại có ông Phan Khôi nào hậu sinh đó, trông thấy cõi học nước nhà vẫn
vắng vẻ tịch mịch, không khỏi thở dài mà than rằng: “Quái! nước ta học Tây đến
ba bốn trăm năm mà vẫn chưa có một nền quốc học riêng!” – Bấy giờ không phải là
trong nước không có lắm tay làm thơ làm văn Tây giỏi chẳng kém gì người Tây, tức
như các cụ ta ngày xưa cũng lắm tay làm thơ làm văn Tàu, chẳng kém gì người
Tàu; nhưng cũng chỉ đến thế thôi, chớ ngay trong làng thơ văn xưa kia chưa cụ
nào được bằng Lý Đỗ Tô Hàn, thì sau này có lẽ cũng không ai bằng Victor Hugo
hay Anatole France được, vì cái nghiệp học mượn viết nhờ có đời kiếp nào cho bằng
hẳn người ta; thơ văn còn thế, đến học vấn tư tưởng tất lại còn kém hơn nữa.
Vậy thời ngày nay nếu ta phải đồng hóa theo Tây, – mà cái đó
là tất nhiên, vì lẽ chính trị, lẽ kinh tế, lẽ văn hóa bắt buộc ta càng ngày
càng phải giao tiếp với người Tây, – ta nên đồng hóa một cách có ý thức, có
nghĩa lý, nên kén chọn lấy những cái hay của người ta mà bắt chước, nên xét xem
mình thiếu những gì mà học tập lấy của người ta để bồi bổ cho mình.
Nói riêng về đường học thuật, – mà học thuật là chủ não của
văn minh, – thì học thuật của Đông phương ít tấn tới, học thuật của Tây phương
mau phát đạt, là vì người Tây họ có cái quan niệm về khoa học, mà người Đông
phương mình thì không có vậy.
Khoa học đây là nghĩa rộng, không phải là nói về cái khoa
chuyên môn, như lý học, hóa học, thiên văn học, địa lý học đâu. Khoa học đây là
nói về cái phương pháp, cái tinh thần của sự học do người Thái Tây khởi xướng
ra. Khoa học là lối học phân ra khoa loại, đặt thành phương pháp, để cầu lấy kết
quả đích xác, tìm lấy chân lý sự vật. Khoa học là phép học chỉ châu tuần trong
cõi thực tế, không mơ tưởng những sự huyền vi (sâu kín, tỉ mỉ). Khoa học là sự
học lấy lý luận làm tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy sự thực hiển
nhiên làm căn cứ, lấy lẽ phải tất nhiên làm mục đích.
Lối học như vậy thì Đông phương ta thật không có. Đông
phương chỉ có đạo học, chớ không có khoa học.
Đạo học với khoa học khác nhau thế nào, Lương Khải Siêu
trong bài tựa bản tiết yếu sách Minh nho học án có phân biệt như sau
này, tưởng cũng xác đáng lắm: “Đạo học với khoa học, phải nên phân biệt cho rất
rõ. Đạo học là cái học thụ dụng (thừa hưởng mà dùng), tự mình tìm lấy được, chớ
không phải đợi ở ngoài, cổ kim đông tây cũng chỉ có một, chớ không có hai. Khoa
học là cái học ứng dụng, nhờ cách biện luận tích lũy mà thành ra, tùy cái trình
độ văn minh trong xã hội mà tiến hóa. Cho nên khoa học chuộng mới, đạo học thời
những lời nói cũ tự trăm ngàn năm về trước, kẻ hiền triết đời nay vị tất đã nói
được hay hơn; khoa học chuộng rộng, đạo học thời một lời nói một nửa câu, có thể
đem ra mà thụ dụng suốt cả đời không hết. Lão tử nói rằng: Vi học nhật
ích, vi đạo nhật tổn (làm việc học thì ngày càng nhiều lên, làm việc đạo
thì ngày càng ít đi). Học ấy là nói khoa học, mà đạo ấy là nói đạo học vậy”.
Lương Khải Siêu nói mấy câu đó, kể cũng là khám phá lắm vậy.
Đông phương với Tây phương khác nhau chính là ở cái quan niệm về sự học đó.
Cái học của Đông phương là đạo học, là cái học “thụ dụng”
nghĩa là dùng cho mình, là cái học “nhật tổn” nghĩa là càng nhập diệu (học đến
chỗ rất thâm thuý) bao nhiêu thì những cái chi tiết bề ngoài nó càng bớt đi bấy
nhiêu, mà chỉ còn lại cái tôn chỉ thâm trầm cao thượng, là cái tôn chỉ học làm
nhà đạo đức, làm ông thánh hiền ở đời. Đã là “thụ dụng” thì là thuộc về phương
diện chủ quan, người nào tâm đắc là người ấy được, không cần mà cũng không thể
đem tuyên truyền ban bố ra cho thiên hạ được. Đã là “nhật tổn” thì học càng
thâm, càng quy nạp lại mấy điều cốt yếu, tự mình giác ngộ là đủ, không cần phải
suy diễn ra cho nó rờm rà bề bộn làm gì.
Nay ta làm án cổ nhân mà buộc cho cái tội không gây nổi một
nền quốc học cho nước nhà, ta cũng phải nghĩ lại mà lượng xét cái quan niệm về
sự học của các cụ là thuộc về đạo học như vừa giải nghĩa đó. Các cụ đã có cái
quan niệm như vậy thì học là chủ để thụ dụng, cốt là trau dồi cái nhân cách
mình thế nào cho có thể hi thánh hi hiền
(mong
theo các vị thánh, người hiền) được, chớ không phải cốt lập ra học
thuyết để truyền cho đời vậy. Các cụ dạy học trò cũng là đem cái tâm thuật mà
truyền cho học trò, khiến cho người nào có tư cách thì tự mình tâm đắc lấy, mà
lại đem thụ dụng cho mình. Vậy muốn phán đoán về các cụ cho công bằng thì phải
xét các cụ về cái chỗ thụ dụng đó, nghĩa là xét các cụ làm người thế nào, ra đời
thế nào, xử trí những lúc lâm nguy thế nào, chớ không phải xét cái lý thuyết của
các cụ hay hay dở, có hay không vậy. Nếu xét ở cách học để làm người của các cụ,
thì ta thật đáng thờ các cụ làm ông cha, chớ không phải vì các cụ mà xấu hổ vậy.
Song đạo học là cái học để làm thánh hiền, ở vào đời nay, có
đâu được bằng cái học cho được giàu mạnh. Khoa học tức là cái học cho được giàu
mạnh đó. Lấy về công dụng mà xét thì khoa học đích hẳn là thích hợp với đời này
hơn là đạo học. Các nước Thái Tây được phú cường như bây giờ là nhờ ở khoa học.
Ta muốn sinh tồn được ở đời này, ta cũng phải cần có khoa học.
Nhưng đó là đứng về phương diện duy lợi mà nói. Bàn về học
thuật, không nên thiên về sự lợi ích, chỉ nên nói về nghĩa lý mà thôi.
Nói về nghĩa lý thời khoa học cũng có lắm cái hay lắm. Những
cái hay đó, người Âu Tây cũng không phải là một sớm một mai mà tìm ngay được.
Hy Lạp La Mã đời xưa cũng chưa biết khoa học là cái gì. Cái học cổ của họ cũng
chỉ là đạo học mà thôi, mà trong khoảng đời Trung cổ thời cũng là phiền toái
lôi thôi lắm; lại thêm quyền áp chế của Giáo hội Gia-tô nữa, có lẽ còn tệ hại độc
ác hơn là cái quyền chuyên chế của Nho giáo ở Đông phương ta. Nhưng từ thế kỷ
thứ 16, ở Âu châu họ có một cuộc cách mạng về tinh thần, đề xướng lên cái quyền
tự do phê phán, đem cả các học thuyết cổ sát hạch lại, rồi lần lần mới nẩy ra
cái quan niệm về khoa học đời nay.
Như vậy thì cái quan niệm về khoa học của Thái Tây mới mầm mống
ra tự thế kỷ thứ 16 mà thôi, mà cũng còn hun đúc mãi đến thế kỷ thứ 19 mới thật
là xuất hiện ra một cách rực rỡ. Từ đấy thời mỗi ngày một phát đạt, thiên biến
vạn hóa, đổi mới cả mặt địa cầu, có trong khoảng một thế kỷ mà làm cho thế giới
tiến hóa mau bằng mấy ngàn năm về trước.
Nay chúng ta tiếp xúc cái văn minh của Thái Tây, mới biết đến
cái giá trị cùng cái sức mạnh của khoa học, thì ngoảnh lại xét mình, thấy cái
óc mình dường hãy còn như cái óc của người Tây về trước thế kỷ thứ 16 vậy. Vậy
nếu ta có muốn tiến hóa cho bằng người, thì ta cũng phải làm một cuộc cách mạng
về tinh thần, như người Âu Tây về thế kỷ thứ 16, cách mạng một cách hòa bình mà
thôi, vì đường lối người ta đã đi qua, mình cứ việc theo, không phải khó nhọc
gì.
Mục đích của sự cách mạng đó, không phải là phá cái đạo học
cố hữu của mình đi đâu, nhưng cốt là gây lấy cái quan niệm khoa học mà bổ thêm
vào. Hai đàng tuy khác nhau, nhưng không tất nhiên là phản trái nhau. Cái học
thụ dụng với cái học ứng dụng có thể kiêm cả cũng được. Dạy cái học thụ dụng là
thuộc về cá nhân, thuộc về chủ quan, là phần riêng của mỗi người, không cần và
cũng không thể truyền dạy được; cái học ứng dụng là thuộc về phổ thông, thuộc về
khách quan, là của chung của xã hội, có thể dùng làm cái lợi khí để trao đổi
tri thức, để xúc tiến tư tưởng, để bồi đắp lấy một cái nền quốc học cho sau này
được.
Vậy thời việc cần cấp bây giờ là phải đem cái quan niệm về
khoa học của Âu Tây ra mà phân tích cho tinh tường. Khi đã dò được đến nơi, tìm
được manh mối rồi, thì phải tập dùng cái phương pháp của khoa học mà nghiên cứu
những nghĩa lý cổ của Đông phương mình. Vì cái khoa học sẵn có của Thái Tây,
thì đã biên chép cả trong sách Tây rồi, ta cứ việc theo đấy mà học, không cần
phải bàn làm chi. Nhưng cái học đó là cái học “vô ngã”, thuộc về cái kho tri thức
chung của cả loài người, dẫu có học được hết đi nữa, cũng vẫn không bao giờ
thành quốc học riêng của mình được. Muốn cho gây được thành một cái quốc học
riêng của mình, thì phải dùng phương pháp phê bình khảo cứu của khoa học mà
phân tích những học thuyết cùng nghĩa lý cũ của Á Đông ta, rồi đem ra nghiền ngẫm,
suy nghĩ, đối chiếu với những điều chân lý cùng những sự phát minh của khoa học
Thái Tây. Kết quả của sự phân tích cùng tổng hợp đó, tức là tài liệu để gây ra
quốc học sau này vậy.
Việc gây dựng ra quốc học, không phải là việc một vài người,
cũng không phải là việc một đời người mà làm xong được. Nhưng nếu các học giả
trong nước đều có cái chí về việc đó, thì trước hết có thể gây ra được một cái
“học phong” (phong thái trong giới có học) để làm hoàn cảnh cho quốc học sau
này có chỗ mà sinh nở ra được.
Chí đó chính là cái chí muốn tự lập về đường tinh thần. Muốn
tự lập thì không thể làm mất cái cốt cách tinh thần của mình đi mà đồng hóa
theo người cả được. Phải mượn phương pháp của người để tự bồi bổ cho mình.
Trên đầu bài này có tiêu đề một câu của nhà phê bình nước
Pháp bàn về cách Đông phương và Tây phương có thể bổ trợ lẫn cho nhau thế nào.
ý tác giả là Tây phương ngày nay đã đem khoa học đến cực điểm, nên quay về mà hỏi
cái bài đạo học của Đông phương; còn như Đông phương thì bấy lâu triền miên
trong cõi đạo học mơ màng, ngưng trệ lại mà không tiến hóa được nữa, thì nên mượn
phương pháp của khoa học Tây phương để mà chấn chỉnh lấy cái cổ học của mình
cho có vẻ hoạt bát hơn. Nhà phê bình tóm tắt cái ý kiến ấy bằng một câu rằng:
“Đem hình thức của khoa học Tây phương mà ứng dụng về nội dung của học thuật
Đông phương” (Appliquer la forme de la science occidentale au contenu de la
connaissance orientale).
Nay cũng xin lấy câu ấy để kết luận bài này.
P.Q.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét