Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

27 thg 12, 2012

Quyền lực chính trị là quyền lực nhà nước

Quyền lực chính trị về cơ bản là quyền lực nhà nước, song quyền lực chính trị (QLCT) không chỉ là quyền lực nhà nước (QLNN), mà còn bao gồm các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng chính trị như quyền lực của đảng cầm quyền, của các tổ chức chính trị nhân dân phi nhà nước…

QLCT là quyền lực của một giai cấp hay là của một liên minh giai cấp, tập đoàn xã hội hoặc của nhân dân. Và là một bộ phận của quyền lực trong xã hội có giai cấp. QLCT xuất hiện cùng với sự hình thành của giai cấp, nhà nước và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp để giành, giữ và thực thi QLCT mà cơ bản là QLNN.


Nói QLCT là QLNN là bởi QLCT có những đặc điểm đặc thù sau:

1/ QLCT của giai cấp thống trị có mục tiêu cơ bản là duy trì bộ máy nhà nước trong tay để củng cố quyền lực giai cấp trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng.

2/ QLCT của giai cấp, hay tập đoàn giai cấp mang tính thống nhất.


QLCT của giai cấp cầm quyền được tổ chức thành nhà nước. Do vậy mà về bản chất, QLNN là quyền lực của giai cấp thống trị.

Như đã nói ở trên, QLCT về cơ bản là QLNN và không chỉ là QLNN. Điều này thể hiện ở những điểm sau:

1/ QLNN là một bộ phận quan trọng nhất của QLCT, sự thay đổi cơ bản của QLNN bằng việc chuyển chính quyền từ giai cấp này sang giai cấp khác sẽ dẫn tới việc thay đổi cơ bản tính chất của QLCT, phương thức cầm quyền và chế độ chính trị.

Mọi QLNN đều mang tính chất chính trị, nhưng không phải mọi QLCT đều là QLNN.

2/ So với QLNN, QLCT rộng hơn, đa dạng hơn QLNN về phương pháp thực hiện cũng như hình thức thể hiện. 


P/s: Gửi Bảo Bình: em thêm cái phần cuối là QLCT và QLNN XHCN nhé. 

26 thg 12, 2012

Quyền lực chính thức và quyền lực không chính thức

Phân biệt Quyền lực chính thức và quyền lực không chính thức, tức là nhận biết sự khác biệt giữa hai dạng quyền lực này. Và để nhận biết được sự khác biệt thì ta cần phải hiểu về quyền lực nói chung và cụm từ "chính thức" và "không chính thức" ở đây là như thế nào.

Quyền lực, như ta biết, là cái biểu hiện trong xã hội, là cái mà ai sở hữu nó có thể điều khiển hành vi của người khác vì lợi ích của họ. Quyền lực vốn có bản chất đa diện, một mặt nó cần thiết cho cộng đồng như một yếu tố của tổ chức. Mặt khác, quyền lực hiện diện trong đời sống con người, qua mối quan hệ giữa người già và người trẻ, giữa người giàu có và người nghèo khổ khi mà đồng tiền trở thành một nhu cầu sống của họ. Ở đây, ta hiểu rằng, dạng quyền lực được nhắc đến là dạng quyền lực cần thiết cho cộng đồng. Và sự chính thức ở đây là được sự chấp thuận của cộng đồng đó, và được quy định bởi các văn bản quy phạm pháp luật.

Quyền lực thường được xem như là sự sở hữu về quyền hành dựa trên những chức vụ chính thức. Và quyền lực không chính thức tức là không sở hữu cái quyền hành đó.

Và sự khác biệt giữa hai dạng quyền lực chính thức và không chính thức chủ yếu là ở những điểm sau:

1/ Quyền lực chính thức được tuân theo vì người tuân theo xem cái quyền lực đó là hợp pháp. Hoặc đối tượng của quyền lực sợ các hậu quả của việc không tuân theo các mệnh lệnh/ yêu cầu của người nắm giữ quyền lực hợp pháp đó. Nhưng không hẳn ta (người tuân theo) đi theo người lãnh đạo vì cái quyền của họ, mà vì cái khả năng lãnh đạo của họ, hay chính là khả năng thu hút của họ, quyền lực không chính thức, hay quyền lực mềm. Tức là ta đã bị họ thuyết phục để đi theo họ, chứ không phải do ta sợ cái quyền lực trong tay họ.

2/ Quyền lực chính thức cũng là một phần của sự trao đổi. Và nó có thể bị chuyển giao cho kẻ khác. Còn những người mà không có địa vị quyền hành chính thức thì cũng được hưởng quyền lực không chính thức. Điển hình cho quyền lực không chính thức trong chính trị là Gandhi - người mà hầu như không giữ chức vụ chính thức quan trọng nào - nhưng qua cách nghĩ suy và gương mẫu của ông mà ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho những người khác noi theo.

3/ Khi đã nắm giữ quyền lực chính thức thường mang lại hai trạng thái khác nhau. Một mặt, đó là lợi thế, nó sẽ giúp người nắm quyền có thể huy động được cơ cấu và các nguồn tài nguyên của tổ chức. Sử dụng nó đàng hoàng giúp người ta cảm thấy yên ổn. Mặt khác, nó lại kèm theo nhiều kỳ vọng, mà nếu như kết quả đạt được không như kỳ vọng đó, rất có thể, quyền lực sẽ được chuyển giao. 


(trong bài có sử dụng một số dữ liệu trên trang học việc công dân) 


P/s: Gưi Bảo Bình. 

25 thg 12, 2012

Về Quyền Lực Chính thức và không chính thức ( Bảo Bình)

Quyền lực


Chúng ta thường nhầm lẫn vai trò lãnh đạo và quyền lực. Để khảo sát điều này, chúng ta có thể tham khảo bản nghiên cứu quan trọng của Heifetz (1994). Quyền lực thường được xem như là sự sở hữu về quyền hành dựa trên những chức vụ chính thức. Trong các tổ chức, chúng ta có khuynh hướng chú trọng vào người quản lý hay nhân viên cao cấp. Họ là những người xem như có quyền chỉ đạo chúng ta. Chúng ta tuân lệnh họ vì chúng ta xem họ hành xử quyền hành đó một cách hợp pháp. Cũng có thể là do chúng ta sợ các hậu quả của chuyện bất tuân theo những mệnh lệnh hay "yêu cầu" của họ. Quyền hạn của họ để đuổi việc, giáng chức hay làm phiền toái chúng ta đảm bảo sự tuân lệnh của chúng ta. Chúng ta cũng có thể đi theo họ vì họ thể hiện khả năng lãnh đạo. Như chúng ta thấy, khả năng lãnh đạo là cái gì đó, nói chung không phải là [quyền lực chính thức]; đó là khả năng nhận thức rõ được vấn đề [trong những tình thế rối rắm], hay xử sự [khôn ngoan] trong những tình huống không bình thường. Bằng cách này, các người lãnh đạo không chỉ đơn thuần gây ảnh hưởng; họ còn phải chứng tỏ là những cuộc khủng hoảng hay những sự kiện bất ngờ xảy ra không làm họ bối rối. Những người lãnh đạo có thể có những quyền lực chính thức nhưng họ cũng dựa một phần lớn vào những quyền lực không chính thức. Nó xuất phát ra từ những phẩm chất và hành động cá nhân. Họ cần được tin cậy, kính trọng qua khả năng chuyên môn và được mọi người đi theo nhờ khả năng thuyết thục của họ.

Nhưng người lãnh đạo có quyền lực cũng là một phần của sự trao đổi: nếu họ không "giao hàng" được, không đáp ứng được kỳ vọng của mọi người, họ có thể bị mất quyền lực vào tay người khác. Những người có quyền hạn chính thức cấp trên của họ có thể thay thế họ. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xem xét thêm một khía cạnh khác. Những người đi theo, dù biết hay không, cũng chấp nhận quyền lãnh đạo của họ - và người lãnh đạo cũng lệ thuộc vào điều này. Người lãnh đạo trông cậy vào những người đi theo cho họ những ý kiến phản ảnh và góp sức vào công việc. Không có những chuyện này, họ không có nguồn tin tức và nguồn tài nguyên để làm việc. Những người lãnh đạo và những người theo họ là những thực thể liên lập với nhau.

Những người không có địa vị quyền hành chính thức cũng có thể hưởng được quyền lực không chính thức. Thí dụ như trong một đội banh, người quản lý chưa hẳn đã là người có ảnh hưởng nhất. Người có ảnh hưởng nhất lại có thể là một cầu thủ giàu kinh nghiệm, có khả năng tiên liệu được thế trận và huy động được năng lực của toàn đội. Trong chính trị, một thí dụ cổ điển là Gandhi - người mà hầu như không giữ chức vụ chính thức quan trọng nào - nhưng qua cách nghĩ suy và gương mẫu của ông mà ông đã trở thành nguồn cảm hứng cho những người khác noi theo.

Quyền lực chính thức vừa là nguồn tài nguyên vừa là sự hạn chế. Một mặt, quyền lực giúp cho người lãnh đạo huy động được cơ cấu và các nguồn tài nguyên của tổ chức. Sử dụng nó đàng hoàng giúp người ta cảm thấy yên ổn. Mặt khác, quyền lực chính thức kèm theo nhiều kỳ vọng - và những kỳ vọng này có thể hoàn toàn không thực tế ở những thời điểm khủng hoảng. Như Heifetz đã viết, "đặt ra những câu hỏi khó khăn và người ta lo ngại bị mất quyền lực, ngay cả khi đó là những câu hỏi được xem là quan trọng nhằm thúc đẩy [tiến trình] giải quyết nan đề (1994: 180). Không được "nắm" quyền hành chính thức nhưng vẫn trong phạm vi cơ quan lại có thể là lợi điểm. Bạn có thể có nhiều tự do di chuyển hơn và nhiều cơ hội để tập trung vào điều bạn nhận thấy là vấn đề (hơn là vào mục tiêu của tổ chức), và có nhiều cơ hội lớn lao hơn để tiếp xúc với điều mà nhân viên tại "tuyến đầu" cảm nhận.


KHX sưu tầm từ Học Viện Công Dân 


P/s: Bảo Bình ơi, a chưa có thời gian viết, e xem tạm cái này nhé! 

23 thg 12, 2012

Bảo Bình

Câu 1: Sự khác biệt giữa chính trị học (cth) và các khoa học khác

Cth là khoa học nằm trên giao điểm của nhiều khoa học xã hội. Nó không thể ra đời nếu thiếu các tri thức về xã hội và chính trị của các khoa học khác. Quan hệ giữa cth và các khoa học xã hội khác rất mật thiết cả trên phương diện đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu.

 

1.cth vs luật học

Luật học phác họa các khuân mẫu chung cho hoạt động của nhà nước và các tổ chức chính trị -xã hội khác, tức là khuân mẫu hình thành các hiện tượng trung tâm của chính trị. Đối tượng và phương pháp điều chính của các quy phạm pháp luật là cơ sở để hình thành các ngành luật. Chính các quy phạm pháp luật được sử dụng để điều chỉnh hành vi của xã hội theo một xu hướng chính trị nhất định.

Tuy nhiên, giữa cth và luật học còn có mqh phát sinh, thậm chí nhiều lĩnh vực của tri thức chính trị vẫn còn chưa tách hoàn toàn ra khỏi luật học.

 

2.cth vs triết học

Triết học là một khoa học phức tạp, là tri thức tổng hợp nhằm nghiên cứu thế giới và các quan hệ của con người đối với thế giới. Do vậy, triết học tạo ra cơ sở triết học rộng rãi cho bất kỳ một khoa học nào. Có thể nói triết học là cơ sở phương pháp luận, là thế giới quan của mọi khoa học.

Trong chính trị học, việc giải quyết những vấn đề về mặt lý luận nhận thức và phương pháp luận đóng vai trò rất quan trọng. Để vẽ nên bức tranh tổng quát về thế giới, triết học đồng thời là khởi điểm cho các quyết định tổng quát trong chính trị học. Chính trị học cần có cơ sở triết học và phải được đặt nền móng từ triết học. Không phải ngẫu nhiên mà triết học chính trị được coi là một bộ phận không thể thiếu được khi tiến hành nghiên cứu chính trị.

 

3.cth vs kinh tế học

Đối tượng được các nhà chính trị học quan tâm nhất trong kinh tế học là các quá trình sản xuất, phân phối và trao đổi của cải vật chất, nhất là khi nó được xem xét trong bối cảnh có sự can thiệp mạnh của nhà nước vào đời sống kinh tế của xã hội. Trong quá trình sản xuất  xã hội, kinh tế học nghiên cứu cơ chế cụ thể của việc hình thành những tập đoàn xã hội lớn với những hệ thống lợi ích xã hội cơ bản. Ngoài ra nó còn cho phép giải thích nguồn gốc kinh tế của đa số quá trình chính trị. Có nhiều cơ sở để cho rằng phần lý luận chung của kinh tế học là kinh tế chính trị. Và một điểm cần lưu ý là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin cho rằng chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. và là sự phản ánh mặt bản chất nhất của kinh tế. Ngược lại, chính trị có tác động trở lại với kinh tế một cách tích cực.

 

4.cth vs xã hội học

Xã hội học cung cấp cho cth nhiều dữ kiện về hoạt động của xã hội như một cơ cấu tổng thể chung nhất, về các tập đoàn hiện diện trong xã hội, và về các mối quan hệ xã hội chính trị điều chỉnh quan hệ giữa chúng. Xét về mặt lý thuyết thì nhà cth có thể khai thác được nhiều vấn đề từ lĩnh vực nghiên cứu các dạng quan hệ xã hội và cơ chế xuất hiện của chúng trong xã hội học. Nhà cth có thể sử dụng việc miêu tả hành vi của các cá nhân hay nhóm không cơ bản có tác động tới hành vi của nhóm cơ bản và ngược lại. Có thể nói qua những phương pháp luận trong nghiên cứu thực nghiệm của xhh mà các nhà cth phải thực hiện, thì xhh là một trong những lĩnh vực có tính chính trị nhất được dùng trong cth.

5.cth vs tâm lý học

Nhìn chung, tlh nghiên cứu cuộc sống của nội tâm, tinh thần của con người mà khi phân tích nó sử dụng các khái niệm "cá nhân", "hành vi"… Nhà cth khi nghiên cứu các hoạt động của con người cũng cần sử dụng các phạm trù này. Chúng rất cần để phân tích vai trò của các nhân tố chủ quan trong các quá trình chính trị và trong hoạt động chính trị.

Có thể thấy tlh nghiên cứu việc hình thành hành vi của các cá nhân và nhóm xã hội, nghiên cứu văn hóa chính trị và mô hình tham gia của con người vào quá trình chính trị dưới tác động của văn hóa chính trị. Ở đấy, cơ chế xã hội và tư tưởng chính trị với tư cách là cơ sở hình thành các quan điểm lập trường chính trị, hình thức quan hệ giữa con người với nhau và quan hệ giữa con người và xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng.

6.cth vs lịch sử

Có thể nói lịch sử là một phương pháp không thể thiếu của cth. Là khoa học về các quá trình lịch sử thực tế, nghiên cứu các quan điểm khác nhau về chúng, lịch sử gần như hoàn toàn nằm trong lĩnh vực khảo sát của các nhà nghiên cứu các hiện tượng chính trị. Nó cho phép chỉ ra và dự báo tương lai trong hiện tại. Đây là một khoa học có quan hệ mật thiết, quan trọng với cth, có giá trị chủ yếu để nghiên cứu lịch sử chính trị, làm rõ các nguồn gốc của chính trị hiện đại, tức là nó cho phép sử dụng cách giải thích kế thừa (như các nguyên nhân và bài học lịch sử) và thừa hưởng mặt chức năng để phân tích các hiện tượng chính trị.

7.cth vs tình yêu học

Nếu như nói cth không liên quan đến tyh là không có căn cứ. Như đã biết về khái niệm cth, thì những chính sách mà nhà nước đưa ra cũng nằm trong phạm vi khái niệm cth. Ví dụ như thời bao cấp, có chính sách cấm thanh niên có tình cảm riêng tư. Hay như chính sách kế hoạch hóa gia đình như hiện nay. Hoặc hơn nữa là xu hướng tình yêu hay bàn luận về cuộc sống tình yêu của giới trẻ hiện nay, thu hút sự quan tâm của chính các bạn trẻ. Những truyện ngắn ngôn tình dễ dãi dễ đọc thu hút nhiều các bạn trẻ hơn. Điều đó có thể khiến giới trẻ ngày nay ít quan tâm đến cuộc sống thực tế, đến những khó khăn của đất nước, mà chỉ chăm chăm vào những mơ mộng yêu đương, thần tượng… (như hiện tượng fans K-pop chẳng hạn)

 

*/ Cth còn có quan hệ mật thiết với các khoa học khác như địa lý, lý thuyết tổ chức, các khoa học hình thức, điều khiển học, …

Sơ đồ như trong ảnh kèm theo nhé Cún! 


--
01697719211
http://kienhoxuan.blogspot.com/

9 thg 12, 2012

Chuyện hai tờ hóa đơn và chính chủ chó mèo....


ĐẤT NƯỚC TÔI :"TƯỢNG CÓ TIM - MÈO CHÓ CÓ CHỦ QUYỀN..."

ĐẤT NƯỚC ƠI !  ĐẤT NƯỚC ÔI!....
Buổi sáng
Theo dõi các thày giáo tôi - các bạn tôi biểu tình chống ngoại xâm qua in tơ nét tận lạng sơn.
Chiều xem kỷ niệm điện biên phủ trên không qua ty vy.
Tối xem phóng sự " chuẩn bị cấp giấy phép chủ quyền cho chó mèo".

KHÔNG CÒN CÓ CẢM XÚC VỀ BẢN THÂN.
một đất nước, một dân tộc hào hùng "đã đánh thắng hai đế quốc to " lại có thể thua "một cộng sản lớn" ?.
Một đất nước "mèo chó còn có chủ quyền" (tạm gọi là "thú quyền") -thì liệu người dân có quyền biểu thị lòng yêu nước ? (tạm gọi là nhân quyền).
HAY ĐÂY ÁP DỤNG NGHỊ ĐỊNH 71 :"NGHỊ ĐỊNH VỀ GIẤY TỜ CHÍNH CHỦ" : ĐẤT NƯỚC NÀY DÂN CHƯA CÓ "GIẤY TỜ CHÍNH CHỦ " NÊN KHÔNG ĐƯỢC BIỂU TÌNH -KỂ CẢ LÀ ĐỂ THỂ HIỆN LÒNG YÊU NƯỚC.
AI nghĩ thế là sai - tôi gửi đây 02 tờ" hóa đơn".



Chủ của 02 tờ "hóa đơn" đã chết vì bom pháp - 02 "hóa đơn" này hiện nay con cháu họ giữ.
Nhớ cho tiền này là tiền đông dương 12 đến 15 đồng mua đươc 01 con bò theo giá bây giờ khoảng 20-25 triệu.
Hai tờ hóa đơn này chứng nhận "nhân dân đã bỏ tiền ,bỏ xương máu ra "mua" đất nước. 

Không biết bao giờ nhân dân mới có" giấy tờ chính chủ sở hữu đất nước " để các thày tôi các bạn tôi đỡ bị  "PHẠT TỘI GIẤY TỜ KHÔNG CHÍNH CHỦ"  như hôm nay.

Bài viết của Kĩ Sư Vi Toàn Nghĩa 
Tiêu đề do KHX đặt. 

Tổng số lượt xem trang

free counters