Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

5 thg 9, 2014

2-9. VÀI ĐIỀU NÓI VỚI "ÔNG GIỜI". Vi Toàn Nghĩa

2-9.
VÀI ĐIỀU NÓI VỚI "ÔNG GIỜI".

Thưa ông giời.

Tôi là vi toàn nghĩa -với dân mạng không ai lạ về tôi.
Đã lâu lắm tôi không viết gì -sau khi tôi được PA-38 -mời lên làm việc ở tầng 2 -số 6 -QUANG TRUNG -HÀ ĐÔNG (chỗ hang ổ của ông nhanh -hay ông chậm gì đấy).
Tôi phải làm việc với họ 8 ngày liên tục. Tôi đàng hoàng -và họ cũng đàng hoàng- họ mời tôi ăn cơm cùng họ ở tầng một -6-quang trung -hà đông.Tôi đã nhận lời -nhưng hỏi ra mới biết -khi ăn cơm không được uống rượu -anh N trung tá an ninh nói với tôi :"bác thông cảm -ngành cháu cấm uống rượu trong ngày"
Trời ạ !
Không uống rượu -lấy đâu trí thông minh ?-họ là ai mà không uống rượu -cũng giỏi?
"HÒA NƯỚC SÔNG -CHÉN RƯỢU NGỌT NGÀO
NẾM MẬT NẰM GAI ĐÂU PHẢI MỘT HAI SỚM TỐI..." (lão nào viết ấy nhỉ?).
Không lan man nữa -tôi xin hỏi ông giời mấy điều nhân 2-9 -có phải mình hay gọi tết độc lập không? -hay dân tôc vẫn là nô lệ - nhưng ở đẳng cấp cao hơn-tạm gọi là "TRUNG CẤP NÔ LỆ" để phân biệt với các bác ở mức đại hoc NÔ LỆ.
.
TÔI HỎI :
Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là gì ? nó là giống chó -hay mèo ? cho biết để dân tộc chúng tôi cư sử cho phải phép.
MÈO hay CHÓ?.
Vì cơ chế thị trường là cung -cầu tự nẩy sinh trong quá trình tiến hóa -nó có từ khi chưa có loài người-vậy nó là TẤT YẾU KHÁCH QUAN -không có loài người nó vẫn tồn tại-tất cả các sinh vật -dù thấp hay cao cho đến nay vẫn duy trì để TỒN TẠI.Nó chấp nhận khủng hoảng để phát triển nhanh hơn khi phục hồi-nó là PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN
Còn kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền sản xuất định hướng -có kế hoạch (nhớ cho là CÓ KẾ HOẠCH )-không chấp nhận quy luật "CUNG -CẦU" nên nó không bao giờ khủng hoảng -không chấp nhận công nhân tất nghiệp.nó là VÔ CÙNG TƯƠI ĐEP ?
Vậy qua tính chất 2 nền phat triển rõ ràng lá CHÓ VỚI MÈO.
Vậy thưa ông "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"-là gì đây ông?
CHÚNG TA LÀ CHÓ -HAY MÈO?- ÔNG NÊN NÓI CHO RÕ RÀNG -ÔNG VỪA RỒI NÓI 100 NĂM NỮA CHÚNG TA KHÔNG BIẾT LÀ CHÓ HAY MÈO -MÀ ÔNG NÓI VỚI CỬ TRI NHƯ THẾ LÀ VÔ CÙNG THIẾU TRÁCH NHIỆM ( tao dẫn chúng mày đi nhưng tao còn chẳng biết tao là chó hay mèo).ĐAU!.
Thưa ông giời-vừa rồi ông sử tù 2 đứa con gái -1 thằng con trai tội gì thế ông -trong vụ này không tìm thấy bao cao su nào -kể ra tìm được vài bao cao su  như vụ tên cù thì dễ sử hơn -đúng không ông?.Bọn thế giới sẽ câm mồm luôn.

Bọn đệ tử ông làm việc quá kém -giảm biên chế đi.
Thưa ông giời-tôi tìm hiểu ông quá rõ -biết cả chuyên ngành của ông -đó là "biến giấy lành thành giấy vun" -tôi chưa gặp ông -nhưng từ điển bách khoa toàn thư mở bảo tôi như thế.
Nó bảo thế này này:
1- lúc dân tộc đang gồng mình lên "giải phóng dân tôc" thì ông đi nước ngoài học kỹ thuật "biến giấy lành thành giấy vụn"
2-lão ấy chưa bao giờ bắn 1 viên đạn về phía kẻ thù của tổ quốc
3-ao nhà của lão ấy là hồ THUYỀN QUANG chứ không phải là biển đông.
Đây là bách khoa toàn thư nói đấy nhé -không phải của kỹ sư vi toàn nghĩa đâu (đề nghị trích dẫn nếu tôi phải ra tòa)
ÔI ông trời ơi :
TAM QUYỀN KHÔNG PHÂN LẬP -có cho ra một nhà nước PHÁP QUYỀN KHÔNG ?
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ THẾ NÀO ĐÂY ?
Có phải :
Nó đã sử vụ hiếp dâm trẻ em ở HÀ GIANG ?
Có phải nó đã bắt lão VƯƠN bạn tôi đi tù.?
có phải nó bắt lão BÌNH vi na xin đi tù?
có phải dương chí dũng là anh hùng dân tộc?

có phải nó bắt cháu tôi PHƯƠNG UYÊN đi tù và đuổi học cháu?
có phải nó có công tìm ra bao nhiêu anh nuôi -chị nuôi -bố mẹ nuội -hoặc tiên sư nuôi để minh chứng cho những tài sản kếch sù của ai đó.
(hỏi nhỏ ông -ông có bao nhiêu rồi - xiu pu cha có tý nào không?)
16 tấn vàng thu được ngay 30-4 đi đâu ấy nhỉ?
có phải.....
có phải.....
có phải....
..............
Ai cho tôi thời gian để nói hết bây giờ.
Và bao giờ nó sử tôi - kỹ sư vi toàn nghĩa đi xe ôm -ông có biết trước thời gian bảo tôi với-ông biết rõ mà vì nó là "tất yếu khách quan" với chế độ này -đúng không ông -NHÌN THẲNG VÀO MẮT TÔI MÀ TRẢ LỜI MỘT KHI LÀ ÔNG TRỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÉP HÈN.
Ông biết không :
"qua 3 điểm cho trước không thẳng hàng (NHỚ LÀ KHÔNG THẲNG HÀNG) ta có một măt phẳng -VÀ DUY NHẤT CHỈ MỘT MÀ THÔI. " Ông biết được hoc từ lớp nào không ?lớp 7 phổ thông đấy ông ạ.
Xã hội đã áp dụng quy tắc này vào " tam quyền phân lập" nó đảm bao cho chỉ có MỘT MẶT PHẢNG DUY NHẤT để sử án -bình đẳng từ thằng chăn vịt đến thằng thủ tướng -đấy gọi là pháp quyền đấy thưa ông -thủ tướng đái bậy sẽ chịu mức phat như thằng xe ôm đái bậy -không có gì khác nhau.
Ông giời ạ -đã là pháp luật thì không thể có "chỉ đạo thống nhất" đâu. 
Vậy mà 72 thầy giáo tôi đòi tam quyền phân lập để có một nhà nước pháp quyền mà ông bảo họ "suy thoái về đạo đức"
Ông nhận là ông giời rồi thì tôi không thể gọi giời nữa -tôi gọi CHÓ ƠI trên thế giới có bao dân tộc sao không chia đều lại bắt mỗi dân tộc việt nam hưởng "PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA" nếu có mắt thì mở mắt ra đi ông trời ơi.
Ông là ông giời thật thì đưa tôi ra tòa nhé -NHƯNG ÔNG CŨNG PHẢI RA ĐỂ LÀM BÊN NGUYÊN -TÔI LÀM BÊN BỊ CHO đừng có sử án phiên tòa chỉ có BÊN BỊ mà KHÔNG CÓ BÊN NGUYÊN -nó khốn nạn lắm ông ơi.
Còn ông là công dân việt nam -ĐAU ĐÁU LO CHO VẬN MỆNH DÂN TỘC thì hãy điện thoại cho tôi -ta cùng tranh luận.
Tôi là kỹ sư vi toàn nghĩa số máy 0982269462.
Chào ông giời -cố làm cho tôi nể trọng đi ông.

viết song lúc 1h08 -tại thạch bàn 
hà nội.

kỹ sư
vi toàn nghĩa
0982269462

TƯ LIỆU TỦ TRỒNG RAU SẠCH "HOÀNG SA -01"


link youtbe.com: https://www.youtube.com/watch?v=xc1BrvWF70Y&list=UUP8qmRmmH7AFKSfOESYbmTQ

1 thg 7, 2014

Tạo không gian xanh với mô hình "vườn quay kỳ diệu"



Bài trên tuoitre.vn: Nhà sáng chế bước vào đời sống

Nhà sáng chế bước vào đời sống
TT - 20 số phát sóng, chương trình Nhà sáng chế (trên kênh VTV2 lúc 20g30 thứ hai và thứ sáu hằng tuần) đã tự tin bước vào đời sống.
Lê Trọng Hiếu với sáng chế chiếc cặp sách phao cứu sinh - Ảnh: T.L.
Từ máy tạo cầu vồng, máy tỉa hạt đa năng đến thiết bị cảnh báo đóng ngắt máy bơm tự động, ghế chỉnh cột sống, thùng rác thông minh... đều được đông đảo khán giả đón xem, coi lại trên website và liên lạc với tác giả sáng chế để được chia sẻ hoặc mua sản phẩm.
Một điểm chung của rất nhiều sáng chế là đều xuất phát từ nhu cầu thực tế bức thiết của đời sống. Có quá nhiều điểm cần cải tạo, sửa chữa, sáng tạo lại hoặc sáng tạo mới để tạo ra những giá trị sử dụng độc đáo ở những sản phẩm hiện đang có.
Nhà sáng chế tuổi đôi mươi Lê Trọng Hiếu với chiếc cặp sách có thể dùng làm phao cứu sinh đã làm nức lòng các bậc phụ huynh xem chương trình vì tính khả thi nếu sản xuất đại trà. Ngay cả khi chưa công ty nào sản xuất đại trà thì các bậc phụ huynh cũng có thể bắt chước làm theo để tạo ra một “phao cứu sinh” cho con cái mỗi ngày đến trường khi mưa lũ.
Bác Trần Thị Vân (Châu Thành, Hậu Giang) chia sẻ: “Tui coi rồi là kiếm cách bắt chước làm theo. Nhà có mấy đứa nhỏ đi học mùa mưa, phải chèo xuồng đi sông cũng sợ, có cái cặp làm phao đỡ lo lắm”. Trong khi đó, nhiều khán giả đi làm xa bằng xe máy mỗi ngày lại vô cùng thích thú với sáng chế thiết bị chống “đinh tặc” của nhà sáng chế Trần Tứ Hải. Anh vốn là người làm nghề rửa xe tại Ba Vì và sáng chế của anh rất đơn giản: sử dụng một miếng cao su gắn giữa hai bánh xe, hạn chế 98% việc bị thủng bánh xe do “đinh tặc” tấn công.
Cả ban giám khảo lẫn khán giả đều ngạc nhiên khi tận mắt thấy miếng cao su nhỏ có thể chặn gần như tất cả đinh bắn về phía bánh sau, nhờ đó bánh sau không bị dính đinh. Một giải pháp an toàn cho bánh sau của xe máy đã được tặng cho khán giả để họ không phải chịu cảnh thủng bánh xe nguy hiểm và bị “chặt chém” khi thay vỏ xe giữa đường.
Điểm chung đáng yêu của các nhà sáng chế nghiệp dư chính là yếu tố cống hiến cho cộng đồng. Hầu hết các nhà sáng chế tham gia chương trình đều sẵn lòng để chia sẻ những sáng tạo của mình một cách vô vụ lợi. Họ đích thực là những người làm công tác khoa học, quên mình vì sự sáng tạo mà không đòi hỏi gì đến tiền bạc. Chỉ cần được phổ biến sáng chế của mình cho mọi người làm theo là họ đã vui và hạnh phúc.
Như ông Vi Toàn Nghĩa ở Lạng Sơn với máy chăm sóc cây trồng tự động vừa cung cấp rau sạch cho gia đình ở quy mô cá nhân vừa thậm chí có thể phát triển rộng, đưa canh tác vào các khu chung cư. Ông Nghĩa tốt nghiệp đại học bách khoa, từng là lính lái xe tăng, tham gia chiến tranh giữ nước và đến giờ ông sẵn sàng dành mọi nỗ lực để giúp mọi người nhân rộng sáng chế của mình mà chẳng đòi hỏi gì. Ông chia sẻ trong chương trình: “Bây giờ tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra thường xuyên, người dân rất lo lắng trong việc tìm kiếm thực phẩm sạch. Tôi muốn sáng chế của mình giúp tháo gỡ một phần nỗi lo đó”.
Giám khảo Doãn Hoàng Thắng trân trọng nhận xét: “Đây là sản phẩm có tính ứng dụng rất cao, sử dụng nguyên lý đơn giản. Hơn hết, bác Nghĩa và sản phẩm của mình thể hiện đúng chất “nhà sáng chế”: Làm để cho, không phải để bán!”.
Sau 20 số đã phát sóng, có thể nói Nhà sáng chế đang chiếm cảm tình của đông đảo khán giả vì tính thiết thực và những giá trị thực tế của nó. Những sáng chế không hề viển vông, xa lạ và thiếu thực tế mà đã đường hoàng bước thẳng vào đời sống, được ứng dụng và đạt hiệu quả.
HỒNG HẠNH
http://tuoitre.vn/Pages/Printview.aspx?ArticleID=546615

29 thg 5, 2014

Làm gì nếu Trung Quốc trả đũa về kinh tế - Vnexpress

Tình hình căng thẳng trên biển Đông khiến nhiều doanh nhân băn khoăn hỏi tôi rằng, nếu Trung Quốc trả đũa chúng ta bằng biện pháp “cấm vận kinh tế” thì chuyện gì sẽ xảy ra với kinh tế Việt Nam?
Hành động Trung Quốc trên biển Đông đi ngược lại với quyền lợi hầu hết các nước cho nên nếu có một biện pháp trừng phạt kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam thì đó chỉ có thể là đơn phương. Qua bài viết này, tôi muốn đánh giá những nguy cơ và cơ hội của hành động đơn phương này ở góc độ thương mại (xuất, nhập khẩu) và đầu tư giữa hai quốc gia.
Việc Trung Quốc dùng các biện pháp kinh tế đối với Việt Nam có thể sẽ gây những khó khăn, thiệt hại đối với nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn nhưng tiềm ẩn nhiều cơ hội.
Thứ nhất về nhập khẩu, chỉ tính rêng năm 2013, chúng ta nhập khẩu từ Trung Quốc lên đến 36,9 tỷ USD, trong đó chủ yếu là nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất trong nước. Với nguồn nhập khẩu các nguyên vật liệu phụ thuộc lớn từ Trung Quốc như vậy, nếu hành động cấm nhập khẩu được thực hiện sẽ khiến trong ngắn hạn giá nguyên vật liệu đầu vào trong nước tăng cao, ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trong nước tạm thời phải cắt giảm sản lượng làm tổng cung ngắn hạn của nền kinh tế giảm đi. Những tác động có thể thấy lúc đó là trên thị trường giá cả hàng hóa tăng lên, sản lượng và tăng trưởng kinh tế tạm thời giảm sút. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ được cải thiện sau đó (nhanh hay chậm tùy khả năng linh động của nền kinh tế Việt Nam) khi các doanh nghiệp Việt Nam thay thế được nguồn nguyên vật liệu từ các quốc gia khác. Cũng có thể các doanh nghiệp sẽ nhập khẩu qua một nước thứ ba như Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam, đặc biệt là sản xuất trong nước phát triển sẽ thay thế dần được những nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
Những phản ứng này của thị trường sẽ từ từ vô hiệu hóa chính sách cấm vận thương mại từ Trung Quốc. Sản lượng sẽ tăng ngược trở lại, giá cả hàng hóa sẽ giảm trở lại bình thường và quan trọng hơn nữa là nếu Trung Quốc làm điều này một cách lâu dài sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam sản xuất ra những loại nguyên vật liệu thay thế hàng hóa Trung Quốc và là cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước.
Theo tôi một biện pháp cấm vận kinh tế từ Trung Quốc (nếu có) ít hay nhiều cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đối với nền kinh tế trong ngắn hạn do vậy, doanh nghiệp nên chủ động các phương án đối phó nhằm giảm thiểu sự tổn thương; thậm chí chuẩn bị cho cả những cơ hội kinh doanh mới, thị trường có thể mở ra sau đó.
Với con số xuất khẩu sang Việt Nam 36,9 tỷ USD mỗi năm (2013), số tiền bán hàng của Trung Quốc cho Việt Nam đủ để mua được gần 37 cái giàn khoan Hải Dương 981. Như vậy, nếu có sự cấm vận kinh tế từ Trung Quốc ở khía cạnh nhập khẩu thì bên thiệt thòi hơn ở đây là Trung Quốc chứ không phải là Việt Nam.
Thứ hai, về xuất khẩu, nếu Trung Quốc cấm Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc thì đó là cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi sản xuất sang một cấp độ cao hơn. Chỉ tính riêng trong năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 13,2 tỷ USD chủ yếu là nguyên vật liệu, nông sản thô. Chúng ta biết rằng, Việt Nam xuất khẩu than rẻ sang cho Trung Quốc sau đó họ dùng than để sản xuất ra điện và bán điện lại cho chúng ta với giá cao hơn rất nhiều. Chúng ta bán quặng sắt thô rẻ tiền cho Trung Quốc, Trung Quốc luyện ra phôi thép, thép và bán lại cho chúng ta đắt hơn gấp bội. Chúng ta bán bôxít cho Trung Quốc, Trung Quốc sản xuất ra nhôm bán lại cho chúng ta với giá đắt hơn nhiều lần… Vậy liệu chúng ta có nên bán những nguyên vật liệu và hàng nông sản thô cho Trung Quốc không?
Trong kinh tế học có một khái niệm gọi là căn bệnh Hà Lan, ở đó những nhà kinh tế đã chỉ ra cả về lý thuyết và tìm thấy vô số bằng chứng thực tế cho mặt trái của “lời nguyền tài nguyên”. Lý thuyết kinh tế và nhiều bằng chứng thực tiễn cho thấy, quốc gia nào càng giàu có về tài nguyên và khai thác tài nguyên thô đó đi bán thì kết quả cuối cùng là quốc gia đó sẽ càng trở nên nghèo hơn. Các quốc gia khác chúng ta thấy rất rõ ở các nước như châu Phi, Mỹ La Tinh… bán rất nhiều tài nguyên và kết quả là họ rất nghèo. Ngược lại Nhật Bản là nước vô cùng khan hiếm về tài nguyên nhưng lại rất giàu có. Có thể ít người biết rằng Mỹ là một nước giàu tài nguyên bậc nhất thế giới nhưng họ đóng cửa không khai thác tài nguyên và họ là nền kinh tế hàng đầu thế giới.
Vậy nhân cơ hội này tại sao chúng ta không thử một lần dũng cảm như người Nhật, người Mỹ đóng cửa hết tài nguyên và tự phát triển bằng năng lực sáng tạo của dân tộc mình?
Thứ ba, về khía cạnh đầu tư, việc các nhà đầu tư Trung Quốc rút vốn khỏi Việt Nam cũng không phải là vấn đề lớn với kinh tế Việt Nam nhưng mang lại cơ hội rất lớn để chúng ta loại bỏ các dự án không hiệu quả, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng. Theo số liệu của Cục đầu tư nước ngoài, tính đến ngày 20/5/2014, tổng giá trị vốn điều lệ lỹ kế các dự án còn hiệu lực của Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam chỉ chiếm 3,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (tính theo vốn đăng ký là 3,3%) chỉ đứng thứ 8 trong các quốc gia. Với một tỷ trọng vốn đầu tư ở Việt Nam tương đối khiêm tốn như vậy thì việc Trung Quốc có chấm dứt đầu tư với Việt Nam sẽ khó có một ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế trong nước. Khi chính phủ Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư rút vốn về nước thì biện pháp này cũng trực tiếp gây thiệt hại cho chính nhà đầu tư Trung Quốc nên các nhà đầu tư của họ sẽ có nhiều động cơ vô hiệu hóa các quy định từ chính phủ Trung Quốc. Ngoài ra, nguồn đầu tư là dạng đầu tư trực tiếp (FDI) thì không phải cứ muốn rút vốn về là được vì họ còn phải có thời gian để tìm được nhà đầu tư nhận mua lại khoản đầu tư của họ ở dưới dạng các nhà máy, xí nghiệp... nên sẽ khó tạo thành cú sốc lớn cho nền kinh tế trong tức thì.
Trong khi đó, nhiều dự án đầu tư của Trung Quốc ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết phải đánh giá lại. Ví dụ dự án bôxit Tây Nguyên sau nhiều năm hoạt động đã công bố bị lỗ; những tác hại về mặt môi trường, xã hội thực tế đã vượt quá những tính toán ban đầu. Liệu có bao nhiêu chuyên gia đã tính toán được những tổn hại do bệnh tật trong 15-20 năm sau mà những cư dân ở hạ nguồn sông Đồng Nai sẽ phải hứng chịu khi mà nguồn nước thải từ bôxit ngấm xuống mạch nước ngầm? Đây sẽ là cơ hội vô cùng tốt để loại bỏ đi các dự án không hiệu quả, tiềm ẩn những rủi ro môi trường, xã hội và an ninh quốc phòng mà trong đánh giá trước khi triển khai dự án chúng ta có thể đã chưa thể lường trước được.
Một dự án được thực hiện phải đảm bảo được ba yếu tố: Dự án đó phải thực sự hiệu quả về mặt kinh tế tránh bị các nhóm lợi ích bơm số lên để hiệu quả trên giấy. Về quá trình đấu thầu phải công bằng, minh bạch nhằm lựa chọn ra nhà đầu tư tốt nhất, tránh trường hợp một số nhà đầu tư “đi cửa sau” để trúng thầu rồi sau đó đội giá lên. Ngoài ra, chúng ta phải xem xét các khía cạnh phi kinh tế khác, trong đó phải tuyệt đối tránh các dự án có Chính phủ nước ngoài đứng sau vì những mục đích phi kinh tế.
Những giải pháp thương mại và đầu tư với Trung Quốc sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu vắng sự góp sức của nhân dân. Tuy nhiên, sức dân sẽ giúp được Chính phủ phát huy hiệu quả nếu nó được đặt trong một cơ chế minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình trước nhân dân. Mỗi người dân là một giọt nước, triệu nhân dân là cả đại dương.
Lê Hữu Đức


28 thg 5, 2014

một đất nước tội nghiệp

Những khôn khéo lay lắt lòng người 
Những ám ảnh đè nặng đôi vai 
Cánh cửa lồng đã mở 
Anh chẳng dám vượt qua 
Cam chịu tù đày trong tư tưởng 
Chán ghét bầu trời đang bay 
Chán ghét lối mòn xưa cũ 
Bội thực những tâm tư 
Nhưng anh cũng như tôi, chìm trong vô vọng 
Không chịu tìm một con đường với bao hy vọng 
Một con đường không ám ảnh đè nặng đôi vai
Chỉ có đam mê, ý chí để làm người.

Anh có gì sai khi mà ai cũng đúng
Đi đứng nói cười bao ánh mắt dõi theo
Anh cô đơn, lạc lõng
Đành giam mình giữ bốn bức tường vôi
Lấy trang giấy, cây bút làm lại cuộc đời

Một đất nước tội nghiệp
Những kiếp người tội nghiệp
Khi người ta chán mớ cảnh đời
Thì làm sao bia rượu không từ bom này đến két khác
Thì làm sao những thằng nghiện chẳng bao giờ cai được
Tỉnh để làm gì thà cứ say
Chẳng ai tự nhận mình là Chí của ngày xưa
Ông Nam Cao chỉ cho Chí uống rượu
Còn bây giờ, người ta đầu độc cả tâm tư
Nghiện quyền lực, tiền tài, hư danh

Chúng ta có gì? Ngoài lịch sử mấy ngàn năm
Chỉ đánh nhau là giỏi
Chúng ta đã làm gì? Khi ngoài chợ đầy rẫy hàng ngoại lai
Nếu không phải chúng ta tự hại mình
Thì kẻ thù nào hại được chúng ta
Biên cương chưa một ngày thôi dậy sóng
Chẳng ai mang chiến tranh để đòi lại hòa bình
Nhưng cũng chẳng ai yếu hèn mà giữ được thể diện

Tôi tự hào ư! Bao nhiêu người chết nơi chiến trận
Kẻ trở về lăn lộn áo cơm
Người nằm lại nghĩ gì về lý tưởng
Không! tất cả chúng ta chung một lý tưởng
Về hai chữ Tổ Quốc thiêng liêng - chỉ có thế
Chẳng một người nào làm nên Đất Nước
Ngoài hai chữ Nhân Dân

14 thg 5, 2014

Về Trung Quốc và những vấn đề...

Những ngày gần đây, khi mà dư luận đang sục xôi về việc Trung Quốc (TQ) đưa giàn khoan vào lãnh hải của Việt Nam. Mà không chỉ có dư luận - cụm từ vốn được cho là quá rộng và mang tính tự phát, nếu không muốn nói là theo kiểu "anh hùng bàn phím" - mà Nhà nước Việt Nam cũng đã có những hành động cụ thể, có những chủ trương nhất định nhằm giải quyết căng thẳng trên Biển Đông, nơi có sự tranh chấp bấy lâu nay. Có nhiều nhận định, tuy nhiên việc chiến tranh diễn ra là gần như không thể. Mặc dù những vụ đụng độ nhỏ có thể xảy ra. Việc cần làm của phía Việt Nam lúc này là cần đưa sự vụ ra quốc tế, cần sự can thiệp của những nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật... đưa ra ASEAN và Hội đồng bảo an LHQ. Và phải dựa vào luật phát quốc tế. Nhưng trước khi nhờ người khác, thì ta phải tự cứu lấy mình, đó là ngăn cản những hành động của TQ và tránh những xung đột không cần thiết. 
Trong chính lịch sử TQ, binh pháp Tôn Tử có câu "biết địch biết ta, trăm trận không nguy". Chúng ta cần biết một vài điều về TQ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. 
TQ là một đất nước rộng lớn, đa sắc tộc. Biên giới đất liền của TQ tiếp giáp với 14 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Mà một quốc gia lớn thì luôn có xu hướng thể hiện quyền lực của mình với các quốc gia nhỏ hơn. Luôn có ý đồ bành trước, và từ hàng ngàn năm nay, TQ luôn có và giữ ý đồ đó với Việt Nam. Trong lịch sử, không có một quốc gia nào đánh thắng TQ nhiều hơn Việt Nam. 
Với ý đồ bành trướng của mình, với vị thế của một nước lớn. Nhưng phía bên ngoài TQ lại đang bị cô lập. Phía Tây TQ là các khu tự trị Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, đó là chưa kể vượt qua các tỉnh rất rộng là Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên. Mà địa hình thì rất phức tạp. Chưa kể sau khi vượt qua những trở ngại này, còn phải vượt qua nhiều nước khác để đến được các nước phương Tây, nơi tiêu thụ hàng hóa. Giống như con đường tơ lụa trước đây. 
Ở phía Bắc, nơi các khu tự trị Hồi Ninh Hạ, Nội Mông Cổ, biên giớ với nước Nga. Nếu vượt qua 2 khu tự trị này thì điểm đến cũng là Mông Cổ và Nga. 

Còn phía Đông, nơi TQ hướng ra biển, và cũng là con đường giao thương chủ yếu để TQ đến được với thế giới. Tuy nhiên, Nhật Bản và Hàn Quốc lại là đồng minh của Hoa Kỳ ở khu vực này và kiểm soát lối ra của TQ. Thậm chí, TQ chưa bao giờ có mối quan hệ tốt đẹp với 2 quốc gia này. Lùi xuống phía Nam một chút, nơi Philippines cũng một đồng minh của Hoa Kỳ. Còn Đài Loan, về cơ bản vẫn là của TQ, nhưng để hàng hóa giao thương được thuận lợi thì vẫn còn nhiều trắc trở. Đặc biệt là những mâu thuẫn về chính trị còn tàn dư lại từ thời Tưởng Giới Thạch. 
Vậy phía Nam, nơi Biển Đông của Việt Nam. Cần nói thêm, Việt Nam là một nước có chế độ XHCN, từng cùng phe với TQ và Liên Xô trước đây, phe XHCN.Từng có mối quan hệ đồng minh. Và hơn nữa, thực sự Việt Nam không có một nước đồng minh theo đúng nghĩa bởi các nước XHCN hiện nay thì có TQ, Cu ba, Triều Tiên. Mà chính TQ đang gây hấn với chúng ta. Cu Ba là một nước có mức phát triển trung bình, lại cách quá xa, nếu có thì cũng chỉ lên tiếng ủng hộ "cho vui". Triều Tiên - một đất nước độc tài, nghèo khó và có bàn tay của Nga và TQ. Đồng thời, TQ cũng tiến hành những lần đánh chiếm ở Biển Đông từ những năm 1974. Và gần như không vấp phải dự phản đối nào từ phía Việt Nam. Và như vậy, TQ gây hấn ở Biển Đông đã nằm trong ý đồ của nước này. 
Và để giải quyết vấn đề này, tất nhiên ta không thể tác động tư tưởng cho TQ được. Cách duy nhất là đàm phán đa phương, dựa vào luật phát quốc tế, và bằng sự kiên quyết trong hành động bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền của Việt Nam. 

12 thg 5, 2014

Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp - Theo Vnexpress

Lập pháp là chức năng vốn có của Quốc hội. Thế nhưng ở Việt Nam việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật lại do rất nhiều cơ quan thực hiện.
Tính riêng trong năm 2013, các cơ quan nhà nước ở trung ương đã ban hành một Hiến pháp sửa đổi, 17 luật, 22 nghị quyết của Quốc hội; 3 pháp lệnh, 8 nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; 215 nghị định của Chính phủ; 703 thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; 106 thông tư liên tịch. Như vậy, tính sơ bộ trong một năm các văn bản được ban hành đã vượt con số 1.000 văn bản, chưa kể lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, quyết định của Thủ tướng, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…
Thực trạng đó khiến tôi trăn trở với câu hỏi:“Quyền lập pháp” của Quốc hội hiện nay có còn là lập pháp nguyên gốc không? Một năm chỉ có 365 ngày, người dân sao có thể tìm, đọc và hiểu được hết một “rừng luật” phức tạp, rắc rối như vậy? Làm thế nào để khắc phục tình trạng này trước đòi hỏi Quốc hội ngày càng phải chuyên nghiệp hơn, phải giải quyết nhiều hơn những “đơn đặt hàng” từ cuộc sống?
Quốc hội nắm quyền lập pháp, nhưng thực tế phần lớn các dự thảo luật là do Chính phủ và các Bộ ngành soạn thảo, đệ trình. Không những thế, ngay cả sau khi luật có hiệu lực thi hành rồi vẫn cần phải có rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành mới có thể đi vào cuộc sống. Xuất phát từ việc quá coi trọng “lập pháp ủy quyền” như vậy nên ở Việt Nam quyền lập pháp vốn thuộc về Quốc hội, nhưng hóa ra trên thực tế đã chuyển một phần lớn sang Chính phủ và các Bộ ngành, vì “hồn cốt của luật” nằm ở các dự luật và văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật được ban hành có hiệu lực rồi, nhưng thường chưa thể thi hành được ngay mà vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn. Điều đó nảy sinh cách hiểu những văn bản hướng dẫn thi hành luật hóa ra “quan trọng hơn cả luật”. Như vậy trật tự, nguyên tắc và giá trị vốn có của hệ thống pháp luật sẽ bị đảo lộn, tạo điều kiện nảy sinh sự tùy tiện trong giải thích và thực thi luật pháp của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền. 
Do có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, nên không tránh khỏi tình trạng nội dung và tinh thần của luật bị biến dạng, biến tướng hoặc không thân thiện với đối tượng được điều chỉnh, tạo tiền lệ dễ cho việc quản lý, nhưng lại khó cho người dân khi thực hiện. Ủy quyền cho Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn, nhưng đáng tiếc chúng ta chưa có cơ chế xác định rõ nội dung, mục đích và phạm vi ủy quyền, hình thức giám sát của Quốc hội đối với việc thực hiện nghĩa vụ ban hành qui phạm được uỷ quyền ra sao.
Quyền lập quy phải dần bị cương tỏa và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ để bảo vệ dân quyền. Các đạo luật cần chứa đựng những quy phạm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng và có hiệu lực lâu dài. Quốc hội cần ban hành nhiều đạo luật nhỏ, cụ thể, chi tiết và có thể thi hành được ngay sau khi có hiệu lực. Việc làm này sẽ cắt giảm việc ủy quyền lập pháp ban hành văn bản hướng dẫn.
Muốn hạn chế lập pháp ủy quyền, tôi cho rằng cần phải có một quy phạm quy định rõ tinh thần “nếu không có ủy quyền của Quốc hội ngay trong chính văn bản Luật thì cũng không đặt ra vấn đề cần có văn bản hướng dẫn thi hành, một đạo luật có hiệu lực, có thể thi hành được ngay”. Quy phạm đó có thể là: “Trong từng đạo luật, Quốc hội sẽ quyết định nội dung, phạm vi ủy quyền cho Chính phủ, một Bộ hoặc chính quyền địa phương ban hành văn bản hướng dẫn”.
Quy định như vậy sẽ minh thị rõ Chính phủ, một Bộ ngành hoặc chính quyền địa phương không đương nhiên có quyền hướng dẫn, mà quyền đó có được trên cơ sở trao quyền của Quốc hội, và chỉ có Quốc hội mới có quyền lập pháp nguyên thủy. Như vậy sẽ hạn chế được tình trạng có quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như hiện nay, hạn chế tình trạng phân tán, chồng chéo, trùng lặp và mâu thuẫn, không rõ ràng giữa các văn bản hướng dẫn liên quan đến một vấn đề.
Hiện nay Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm vẫn chiếm số lượng lớn. Những đại biểu này ngoài việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu thì họ còn phải thực hiện các công việc theo chức trách nơi mình công tác, không có nhiều thời gian chuyên tâm vào hoạt động lập pháp.
Để hoạt động lập pháp của Quốc hội được tăng cường, cần gia tăng số lượng Đại biểu chuyên nghiệp của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp trước tiên phải là người dành nhiều thời gian, tâm huyết cho hoạt động của Quốc hội. Họ sẽ có điều kiện tốt hơn để phản biện các dự luật, cản trở những dự luật có thể gây phương hại cho lợi ích của cử tri đã bầu ra mình. Đại biểu chuyên nghiệp ở Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội phải là những người không kiêm nhiệm, thạo nghề (thạo giao tiếp, thuyết phục, thương lượng, nắm vững các quy trình và thủ tục làm việc của Quốc hội...) và có điều kiện làm việc chuyên nghiệp (thu nhập cao, bộ máy giúp việc chuyên nghiệp, có nhiều đặc quyền của Đại biểu Quốc hội...).
Lâu nay nhiều người vẫn nghĩ cứ làm ra luật, rồi áp dụng là sẽ có “nhà nước pháp quyền”. Tôi không nghĩ đơn giản như vậy.
Luật pháp là do con người làm ra. Con người không hoàn thiện thì pháp luật - sản phẩm của con người - cũng có thể không hoàn thiện. Không thiếu những văn bản luật không khả thi, không công bằng, không khách quan, xâm phạm những quyền tự nhiên của con người. Việc nhất nhất tuân thủ hoặc lợi dụng sơ hở của những văn bản này để trục lợi có thể đi ngược lại tinh thần pháp luật. Bỏ tù 10 năm oan uổng là “đúng quy trình”, tiêm chết người cũng “đúng quy trình”, rồi không công bố dịch sởi khi đã có hàng trăm trẻ tử vong cũng vẫn “đúng quy trình”. Vậy những cái “đúng quy trình” đó có thể tạo nên một nhà nước pháp quyền hay không?
Tôi nghĩ “thượng tôn tinh thần pháp luật” là thượng tôn cái đúng, cái nhân văn, sự công bằng, và các quy trình chuẩn tắc của pháp luật, thượng tôn tinh thần không ai đứng ở trên pháp luật và cũng không ai không được pháp luật bảo vệ. Tinh thần ấy cao hơn cả những đạo luật do con người làm ra. Quốc hội có nhiệm vụ rất quan trọng là ngăn chặn, không thông qua những đạo luật không phù hợp với “tinh thần pháp luật”, xâm phạm đến những quyền tự nhiên của con người. Chỉ có một Quốc hội lập pháp chuyên nghiệp mới có thể làm được những việc khó khăn như vậy.

Nguyễn Minh Tuấn


Tạo thế cân bằng mới trên Biển Đông - Theo Vnexpress

Ngày 8/5 chưa bao giờ thị trường chứng khoán rớt thê thảm như vậy trong hơn chục năm qua. Ngay cả những công ty có chỉ số tài chính tốt cũng chứng kiến giá chứng khoán sặc màu đỏ chạm tới sàn.
Ngoài sự kiện biển Đông, các thông tin vĩ mô đều không có gì đặc biệt. Điều này cho thấy, dù con người chỉ muốn an cư làm ăn thì họ cũng không thể hững hờ trước những biến động của sinh mệnh dân tộc. Nhiều người đang trong trạng thái rất dễ bị kích động.
Chúng ta phải thấy, hiểu rõ đúng bản chất của cuộc chiến này, cùng với Chính phủ đưa ra những tính toán sáng suốt, chiến lược lâu dài để chiến thắng. Dựa vào các bài học từ Binh pháp Tôn Tử, Lý thuyết Trò chơi trong kinh tế học và vấn đề cải cách thể chế được áp dụng để phân tích diễn biến sự kiện trên biển Đông xem ra là một chuỗi móc nối rất logic với nhau. 
Chúng ta thường ngộ nhận câu nói của Binh pháp Tôn Tử là “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”. Theo tôi, Binh pháp Tôn Tử không nói vậy mà chính xác là: "Biết địch biết ta trăm trận không nguy". Nếu theo cách hiểu thứ nhất, chúng ta “biết địch”, “biết ta” và đối thủ của chúng ta cũng “biết địch”, “biết ta” thì cả hai bên đều thắng? Vậy ai bại đây? Thực ra câu nói thứ hai mới thực sự đầy đủ hơn khi cả hai bên đều “biết địch”, “biết ta” thì sẽ chẳng có bên nào thắng cả mà chỉ duy trì thế cân bằng mà thôi (không nguy). Tuy nhiên, khi một trong hai bên mắc sai lầm (tức là “không biết địch” hoặc “không biết ta”) thì thế cân bằng cũ sẽ bị phá vỡ và dịch chuyển sang thế có lợi cho “bên thắng” (có bên thắng, có bên thua).
Cái này nếu giải thích theo Lý thuyết Trò chơi trong Kinh tế học thì chúng ta sẽ hiểu rằng, khi cả hai bên đều có hiểu biết đầy đủ về chiến lược của đối thủ và của mình thì cuộc chơi sẽ tiến đến một trạng thái cân bằng bền vững. Tuy nhiên, khi một trong hai bên mắc sai lầm về mặt chiến lược thì trạng thái cân bằng cũ sẽ bị phá vỡ và trạng thái cân bằng mới được thiết lập nơi mà đối thủ sẽ có lợi hơn.
Quan sát cách mà người Trung Hoa đã và đang làm ở biển Đông thì có vẻ họ rất "biết địch, biết ta", còn cách mà một số người phản ứng lại thì có vẻ như họ mới chỉ "biết ta”, mà "chưa biết địch". Quay lại nhìn những vấn đề trên biển Đông dưới góc nhìn của Lý thuyết Trò chơi, nhìn vào bối cảnh chiến lược để phân tích tương quan giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Trung Quốc, theo tiếng Hán nghĩa là “quốc gia trung tâm của thế giới”. Vậy là ngay thời lập quốc những kẻ cai trị, họ đã mang mộng bá chủ thế giới rồi. Tuy nhiên, người Trung Hoa mà phần đa là người Hán phải chịu sự cai trị  của dân tộc ngoại lai Mãn Thanh, sau đó là sự xâu xé của các nước đế quốc như Anh, Pháp, Mỹ... và đặc biệt là sự chiếm đóng của người Nhật. Thực tế kéo dài hàng trăm năm đó đã nung nấu một chủ nghĩa dân tộc cực đoan hàng thế kỷ của người Trung Hoa. Đây là lúc kinh tế, quân sự Trung Quốc đạt được sự chín muồi để thực hiện giấc mộng bá quyền và tinh thần phục hận hàng thế kỷ trước đó.
Về kinh tế, năm 1999, Trung Quốc bình quân thu nhập đầu người bằng Việt Nam. Nhưng đến 2014, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc đã gấp gần 3 lần so với chúng ta và họ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới trong khi Việt Nam là vẫn là một trong những nền kinh tế kém nhất ở Đông Nam Á, thậm chí hiện nay tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn bị cả Lào và Campuchia vượt qua. Về quân sự, kinh tế vượt trội kéo theo khả năng mua sắm thiết bị quân sự vượt trội. Mình có thể mua được một tàu ngầm thì Trung Quốc có thể mua được mười, thậm chí một trăm và hơn nữa.
Những nhân tố quan trọng khác trong bối cảnh cuộc chơi trên biển Đông thì sao?
Nước Mỹ, khi không may có cuộc chiến xảy, liệu sẽ ủng hộ chúng ta? Trung Quốc đã xâm lược Hoàng Sa năm 1974 sau khi Tổng thống Nixon và Mao Trạch Đông gặp nhau. Nếu không có sự thỏa hiệp từ Mỹ thì sẽ không bao giờ Trung Quốc dám chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam lúc đó. Sau sự kiện Crimea, nếu người Nga và người Trung bắt tay với nhau thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lực độc tôn của Mỹ. Do đó tôi cho rằng, nước Mỹ sẽ quan tâm tới việc Nga – Trung đang chuẩn bị tập trận với nhau hơn là việc Trung Quốc đặt giàn khoan ở thềm lục địa Việt Nam.  
Nước Nga sẽ ủng hộ ta? Năm 1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác Liên Xô - Việt Nam, trong đó điều 6, hai bên thoả thuận: trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công thì bên kia sẽ áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực. Hiệp định có giá trị trong 25 năm, tuy nhiên chỉ một năm sau, năm 1979 Trung Quốc đưa quân sang xâm lược Việt Nam ở các tỉnh phía Bắc, Liên Xô đã làm gì? Hiện nay Trung Quốc đã đưa dàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam trên biển Đông thì nước Nga vẫn im lặng.
Mỗi khi lẽ phải và luật pháp quốc tế bị chà đạp thì tất cả quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước  nhỏ, sẽ là những đối tượng bị thiệt hại nhiều nhất. Hãy đừng quên lực lượng thứ ba là những người bạn như Philipinnes, Maylaysia, Nhật, Hàn Quốc, ASEAN, những quốc gia đang có chung hiểm họa với chúng ta trước mộng bá quyền của Trung Hoa.
Vậy chúng ta phải làm sao đây? Theo tôi, chúng ta phải phát triển các yếu tố dẫn đến kiến tạo một vị thế cân bằng mới có lợi cho ta trên biển Đông.
Thứ nhất, hãy coi đây là cơ hội để chúng ta thay đổi nhằm phát huy được năng lực nội tại của toàn dân từ đó tạo ra một thế cân bằng mới cho quốc gia. Lúc này đây, nhân dân, Quốc hội và Chính phủ phải cùng xem đây là lúc thực sự nghiêm túc cải thiện môi trường thể chế (trong đó có cải cách hệ thống luật pháp) theo hướng cạnh tranh bình đẳng, minh bạch để mỗi người dân phát huy hết được năng lực nội tại của mình, từ đó tạo ra một sức mạnh của toàn dân to lớn hơn.
Thứ hai, xây dựng vị thế mới trên chiến trận về kinh tế mà ở đó doanh nhân phải là những chiến sĩ tiên phong. Chỉ có thắng trên mặt trận kinh tế thì chúng ta mới có thể chiến thắng trên biển. Kinh tế tương đối chúng ta so với Trung Quốc càng kém đi, bối cảnh chiến lược biển Đông sẽ luôn xấu dần đi. Sẽ không bao giờ thắng trên mặt trận kinh tế nếu chúng ta không có những doanh nhân giỏi. Động lực làm giàu mỗi người dân sẽ giúp chúng ta có những doanh nhân giỏi hơn và các doanh nghiệp sẽ làm ăn cạnh tranh hơn. Khi nước chúng ta có những doanh nhân giỏi như người Israel, doanh nhân Việt có thể cạnh tranh được với doanh nhân Trung Quốc và thế giới. Đừng bao giờ quên người Israel chỉ có 6,9 triệu dân (năm 2004) luôn bị đe dọa xóa sổ bởi hàng trăm triệu người Ả rập ngay bên cạnh mà họ luôn đứng vững và không những thế còn phát triển và ngày càng trở nên thịnh vượng hơn. Chúng ta có đến 90 triệu dân!
Thứ ba, hãy liên kết với lực lượng thứ ba lại thành một khối. Chúng ta phải nói cho bạn bè trên thế giới (bao gồm cả những người Trung Hoa yêu chuộng hòa bình) lẽ phải và phải để họ hiểu được những đe dọa chung. Tham vọng bá quyền của Trung Hoa là cơ hội để những những nước cùng chung hiểm họa ngồi lại với nhau. Đừng bao giờ mắc sai lầm khi thực hiện đàm phán song phương vì đó là cách mà Trung Quốc chia rẽ sức mạnh tổng hợp chúng ta và những người bạn có cùng mâu thuẫn quyền lợi với Trung Quốc.
Thứ tư, quan trọng nhất là phải lấy dân làm gốc. Sinh mạng của nhân dân là thiêng liêng. Chúng ta yêu hòa bình và sẽ bằng mọi cách tránh chiến tranh nếu chúng ta còn có lựa chọn khác để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, khi không còn lựa chọn nào khác mà chúng ta phải chiến đấu thì hãy luôn lắng nghe nhân dân, hãy học hỏi cách mà ông cha đã làm. Ngày xưa giặc Mông Nguyên chiếm gần cả thế giới nhưng qua xâm chiếm ta cả 3 lần đều bại.
Trong chiến tranh không phải cứ mạnh là thắng mà là sự sáng tạo của một dân tộc bảo vệ lẽ phải sẽ là vô địch. Chúng ta có Điện Biên Phủ ở trên đất, Điện Biên Phủ trên không sao chúng ta lại không làm được một Điện Biên Phủ trên biển?

Lê Hữu Đức


11 thg 5, 2014

Sản phẩm Vườn treo kỳ diệu của công ty CPPT Nông Nghiệp Vàng


 




Chúng tôi xin giới thiệu sản phẩm vườn treo kỳ diệu TN – 01 nhân ngày khoa học công nghệ Việt Nam 18-5-2014.
VQTN _ 01, là sang chế nhằm giảm bớt diện tích sử dụng, giảm bớt diện tích sử dụng, giảm bớt công sức chăm sóc cây trồng, tăng tính mỹ thuật cho khu vườn.
VQTN _ 01: Sử dụng các công nghệ:
1.  Cơ tự động
2.   Công nghệ bán thủy canh
3.    Chiếu sáng nhân tạo có chọn lọc (thay đổi bước sóng ánh sáng).
VQTN _ 01 được thiết kế bởi kỹ sư Vi Toàn Nghĩa và công ty cổ phần phát triển nông nghiệp vàng.
VQTN _ 01 rất phù hợp trang trí những nơi vui chơi công cộng như: công viên, vườn hoa, … Với kích thước nhỏ, VQTN _ 01 được trang trí trong văn phòng, phòng khách gia đình…
VQTN _ 01: Khởi nguồn của nền nông nghiệp hiện đại.


Tham khảo kỹ thuật
Vi Toàn Nghĩa
SĐT: 0982269462

Giám đốc
Vương Khánh Toàn


Một vài hình ảnh về sản phẩm TN - 01: 


22 thg 4, 2014

Nông nghiệp vàng - Máy chăm sóc cây trồng tự động - Vi Toàn Nghĩa

Ông Vi Toàn Nghĩa ở Lạng Sơn với máy chăm sóc cây trồng tự động vừa cung cấp rau sạch cho gia đình ở quy mô cá nhân vừa thậm chí có thể phát triển rộng, đưa canh tác vào các khu chung cư. Ông Nghĩa tốt nghiệp đại học bách khoa, từng là lính lái xe tăng, tham gia chiến tranh giữ nước và đến giờ ông sẵn sàng dành mọi nỗ lực để giúp mọi người nhân rộng sáng chế của mình mà chẳng đòi hỏi gì. Ông chia sẻ trong chương trình: “Bây giờ tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra thường xuyên, người dân rất lo lắng trong việc tìm kiếm thực phẩm sạch. Tôi muốn sáng chế của mình giúp tháo gỡ một phần nỗi lo đó”.

17 thg 4, 2014

ngày càng nhiều những người trẻ VN được các trường ĐH cấp học bổng du học. Trong khi đó Bộ GD vẫn loay hoay với cái đề án đổi mới. Nhân tài thì nhiều, nhưng đào tạo để phục vụ cho đất nước mình thì chẳng được bao nhiêu.

11 thg 4, 2014

HỌC ĐỂ HIỂU "TRÁCH NHIỆM" CỦA BẢN THÂN - Trích sách Khuyến Học, và một vài suy nghĩ về mấy sự kiện bức xúc trong ngày

          
Như tôi đã nói ở trên kia, "độc lập và tự do" dựa trên đạo lý của Trời đã trở thành nguyên tắc trong từng người cũng như của cả quốc gia chúng ta. Nếu như có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc này thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù, chúng ta cũng không sợ, huống hồ chúng ta lại phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền?            
Giờ đây, chúng ta đã xác lập được tinh thần cơ bản: mọi người dân đều bình đẳng, vì thế chúng ta hãy yên tâm phát huy mọi khả năng sức lực và trí tuệ của mình.            
Mỗi người đều có mỗi bổn phận, do đó phải tự vun đắp tài năng, rèn luyện nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận đó. Để làm được điều này, ai ai cũng phải học chữ, học ngôn ngữ. Có chữ, biết ngôn ngữ sẽ lý giải được mọi đạo lý của sự vật.            
Nói đến đây chắc các bạn sẽ hiểu giúp tôi rằng: Học vấn là vấn đề cấp bách biết nhường nào.            
Hiện nay, tầng lớp thường dân cũng đã sánh vai ngang hàng với tầng lớp Võ sĩ (samurai), cho nên con đường được lựa chọn vào các chức vụ trong chính quyền cũng mở ra cho chúng ta nếu chúng ta có tài.
Chúng ta phải tự giác trước bổn phận của bản thân, không chạy theo những hành động rồ dại, phải cẩn trọng.            
Tôi chắc rằng không ai đáng thương hại hơn là những người vô tri thức, những người không hiểu lẽ phải, và cũng không ai khó giao tiếp hơn những người ấy. Vì không có tri thức, không có năng lực tự thức tỉnh nên họ căm ghét oán giận những người giàu có chính đáng, đôi khi họ tập hợp thành bầu đoàn đi đánh cướp.
Bản thân họ được pháp luật bảo vệ, nhưng hễ cứ cảm thấy bất lợi cho mình thì họ lại thản nhiên vi phạm, ngang nhiên phá luật.            
Lại không có ít người, có được chút ít tài sản, tiền bạc thì chỉ lo tích trữ, cất giấu, không bao giờ suy nghĩ đầu tư cho con cháu học hành. Vì thế con cháu họ chỉ biết ăn chơi, lêu lổng, dốt nát và cứ thế tiêu pha tàn phá tài sản của ông cha mình.
Đối với nhũng người như vậy, không thể mang đạo lý ra để giảng giải mà chỉ có cách là dùng uy lực đe doạ chứ không có cách nào khác. Ám chỉ điều này, người phương Tây có câu tục ngữ: "Dân ngu tự chuốc lấy chính sách bạo tàn." Người dân tử tế nghiêm túc thì chính phủ cũng buộc phải tử tế nghiêm túc.
Nước Nhật chúng ta có dân, trên dân có chính phủ. Phẩm cách của dân rơi vào vòng ngu tối, vô học thì luật pháp của chính phủ cũng trở nên hà khắc. Nhưng nếu quốc dân có chí học hành, tiếp thu văn minh thì không có cách nào khác, chính phủ cũng sẽ quảng đại, nhân đạo.            
Luật nước hà khắc hay quảng đại hoàn toàn tuỳ thuộc vào thái độ, phẩm cách của quốc dân.            
Có người dân nào lại mong muốn một chế độ chính trị tàn bạo?            
Có người dân nào lại mong muốn cho đất nước kém phát triển?            
Có người dân nào lại mong cho nước mình bị ngoại bang khinh miệt?
Không và không thể có. Đó chính là tình con người trong mỗi chúng ta.
Nếu như ai ai cũng một lòng một dạ báo đáp cho Tổ quốc, nơi mình sinh thành thì chúng ta không bao giờ phải lo nghĩ hay bất an đến tương lai, đến tiền đồ của Nhật Bản. Mục đích của chúng ta chỉ có một: giữ gìn hoà bình cho đất nước.
Do vậy, điều quan trọng hơn bât kỳ điều gì khác là mỗi người chúng ta ai ai cũng phải học hành, mở mang kiến thức, mài giũa tài năng, nhân cách sao cho xứng đáng với bổn phận của mình.            
Ngược lại, chính phủ phải có trách nhiệm soạn thảo và thông báo đến mọi người dân những chính sách dễ hiểu. Mục tiêu duy nhất cho chính phủ là phải mang lại cuộc sống ấm no yên ổn cho dân.            
Những lời về học vấn mà tôi khuyên nhủ các bạn cũng chỉ nhằm tới điều này.            
Nhân dịp khai trương "Keio Nghĩa thục" tại quê tôi, huyện Nakatsu tỉnh Oita, tôi chấp bút viết chương này đưa cho bạn bè, đồng hương xem. Nhiều bạn hữu, sau khi đọc xong, nói với tôi rằng: Bài này không chỉ cho bạn bè, đồng hương mà nên gởi tới bạn đọc gần xa nữa, như vậy sẽ có hiệu quả hơn, nên tôi đã cho in thành nhiều bản để các bạn cùng đọc.
Tháng 2 năm Minh Trị thứ năm (tức năm 1871)
Trích Phần I, sách Khuyến Học – Fukuzawa Yukichi, Nxb Trẻ, 2004.

KHX:
Mình hay đọc Khuyến Học, gần như mỗi ngày. Và mỗi lần đọc, dù không đọc một lần hết cả quyển nhưng đọc câu nào là thấm thía câu đấy. Đọc dòng nào là thấm thía dòng đấy. Nó không chỉ đơn thuần là một cuốn sách “khuyến học” theo nghĩa thông thường. Fukuzawa đã cho rằng, mục đích của cuốn khuyến học không chỉ đơn thuần là đọc sách, mà là đề cập đến những tinh thần cơ bản của con người, đề cập đến mục đích thực sự của học vấn. Rằng nếu như một người đọc nhiều sách, học nhiều mà không tự nuôi nổi bản thân, thì người đó không thể là một người có học vấn được. Rằng kiếm kế sinh nhai cũng là học vấn. Và đã học thì phải có trách nhiệm với bản thân mình, phải có trách nhiệm với lợi ích của quốc gia dân tộc. Và phải thi hành được trách nhiệm ấy.
Và hôm nay, khi đọc phần này. Học để hiểu trách nhiệm của bản thân. Để thấy rằng, ngoài những mục đích của việc học như kiếm miếng cơm manh áo, để làm giàu, để phục vụ cho đất nước. Nhưng trước hơn hết là để hiểu trách nhiệm của bản thân mình. Có trách nhiệm với chính bản thân, với gia đình, với làng xã, với đất nước, quê hương.
Nhưng thật bất ngờ, mà có lẽ cũng chẳng có gì làm bất ngờ lắm, khi mà ông chủ tịch quốc hội đương nhiệm của nước ta, ông Nguyễn Sinh Hùng, lại có thể phát biểu như thế này: “Theo Chủ tịch, Quốc hội là cơ quan lập pháp, nếu quyết sai cũng phải nhận khuyết điểm chứ không phải kỷ luật, Chủ tịch Quốc hội cũng không phải người đứng đầu Quốc hội. Vì thế, không thể vì cả 500 đại biểu bỏ phiếu mà kỷ luật cả 500 vị hay kỷ luật ông Chủ tịch.
“Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai”, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh.” ( Theo tờ VnEconomy.vn, bài Đầu tư công: Quyết sai thì ai chịu của tác giả Nguyên Lê, đăng ngày 11-4-2014).
Một người đứng đầu cơ quan lập pháp mà lại phát ngôn như vậy, thử hỏi làm sao mà đất nước có thể phát triển được. Ấy vậy mà chúng ta, những người dân nước Việt vẫn phải chịu sự lãnh đạo của họ, những nhà lãnh đạo “vô cùng tài ba”. Với tình hình nợ công, đó là chuyện của kinh tế, nhưng kinh tế là nguồn gốc, quyết định chính trị. Hay như vụ việc đường Trường Chinh ở Hà Nội bị bẻ cong đang rầm rộ trên báo chí nhiều ngày nay. Chúng ta có thể thấy, những phát ngôn của các quan chức trong các ngành có liên quan, có thể mang ra để tấu hài được.
Nhưng người dân thì sao? Họ muốn yên thân, hay người ta đang vô cảm với chính bản thân mình, như cái vô cảm đang thường nhật trong mỗi con người khi lưu thông trên đường, khi ra ngoài xã hội. Và rồi, họ vô cảm với chính cuộc sống của chính họ.
Tại sao ngày càng nhiều người dân chết trong phòng giam công an huyện, khi mà còn chưa rõ tội danh của họ?
Tại sao khi công an đánh chết người, lại chỉ xử án treo, còn người dân phạm tội thì lại xử thật nặng để răn đe. Răn đe ai bây giờ?
Tại sao công an, cảnh sát, an ninh lại nhiều và đông như vậy. Nó như món hàng đắt giá được rao bán công khai?
Tại sao? Tại sao? và còn nhiều cái tại sao nữa???
Do người dân đã không ý thức được trách nhiệm của bản thân, hay không được học một cách tử tế để hiểu được những trách nhiệm ấy. Hay do nhà nước có những “ông quan” chỉ biết nói những câu hề tuồng trước mặt đám báo chí “chỉ có thể được nịnh mà chẳng được chê”?


18 thg 3, 2014

Bài đọc được trên Chungta.com: Tại sao người Nhật mê đọc sách?

Tại sao người Nhật mê đọc sách?
Nguyễn Xuân Xanh2

- Không có thú vui nào trên thế giới có thể so sánh được với thú vui đọc sách. Khi người ta cảm nhận được sự đàm thoại riêng tư với thế giới người hiền, thì đó là thú vui duy nhất không lệ thuộc vào người khác.. (Kaibara Ekken (1630-1714)
- Chúng ta có thể nhân bản hơn bằng cách trở thành hoàn vũ hơn.
(Okakura Tenshin (1862-1913)


Tóm tắt
Những lý do nào khiến dân tộc Nhật đã có một văn hoá đọc có thể nói vào bậc nhất thế giới? Văn hoá đọc này không phải chỉ bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị Duy Tân 1868 khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hoá võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khoẻmạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số "khủng" về giáo dục và văn hoá đọc. Những lý do nào khiến cho một dân tộc võ sĩ lại trở thành mê đọc sách như thế? Và đọc sách để làm gì? Tại sao không phải các dân tộc có truyền thống văn sâu đậm như Trung Hoa hay Việt Nam mà lại một dân tộc có truyền thống võ như Nhật Bản? Hai trăm sáu mươi năm tự đóng kín cửa như "hến" sau khi đuổi hết người truyền giáo phương Tây khỏi nước (cùng thời với Việt Nam), nhưng tại sao mảnh đất Nhật Bản lại "ngậm" được viên ngọc 'Tây học' (Western learning, thông qua 'Lan học', Rangaku) hình thành bên trong, từ chất "nọc độc của người man di", để rồi viên ngọc khai minh đó biến thành quốc sách thời Minh Trị? Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đạithế kỷ 11 và 12 lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hoá, thì tương tự, ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bảnđã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh.Đọc sách là việc làm của lòng yêu nước, không phải chỉ để thưởng ngoạn, mà để khai minh và khai sinh một thời đại mới cho đất nước.Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợngu muội vì không học. Và họ đã thành công.
Người ta đã từng nghe nói vềsự đọc sách khủngcủa người Nhật thời Minh Trị Duy Tân, cách chúng ta hôm nay ngót một thế kỷ rưỡi. Thí dụ minh hoạ thường là quyển sách Bàn về Tựdo, On Liberty, của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với tác phẩm "Thuyết tiến hoá" của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi được dịch sang tiếng Nhật quyển sách đã bán trên triệu bản.
Một quyển sách khác, có lẽ ít được biết hơn đối với độc giả Việt Nam, là Tự lo, Self-Help của Samuel Smiles. Quyển sách này là best-seller ở phương Tây, đến cuối thế kỷ 19 bán được số lượng 250.000 ở Anh Mỹ, nhưng khi được Nakamura Masanao, một học giả Khổng giáo từng học bên Anh, dịch sang tiếng Nhật những năm đầu của thời Minh Trị thì quyển sách bán đến một triệu bản! (Nakamura cũng là người dịch quyển Bàn về Tự do) Một con số thật "khủng" nếu ta biết rằng thời đó dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu thôi. Self-Help là một trong ba quyển sách được gọi là "Bộ kinh thánh Minh Trị" có sức hút mãnh liệt đối với người Nhật, nhất là giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đổi mới của Nhật Bản. Cuốn sách Tự lo thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của các cá nhân, và từ đó làm cho quốc gia độc lập và tự chủ.Cuốn sách mượn lời của J.S. Mill ngay trang đầu: "Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành." Đó là tín hiệu mà quyển sách muốn truyền đạt: Muốn có một đất nước mạnh,độc lập, phải có những cá nhân mạnh và độc lập, thông qua tự rèn luyện, tự lo. Đó là điều kiện tiên quyết.
Nói chung vào thời mở cửa Minh Trị Duy Tân, dân tộc Nhật lên cơn sốt đọc sách nước ngoài để biết phương Tây đã làm gì và đang làm gì mà "nước giàu quân mạnh"như thế.Họ muốn biết và muốn học, để xây dựng đất nước hùng mạnh như các cường quốc phương Tây. Chỉ có được một nền văn hoá lớn, một xã hội phú cường, khi nào mọi người được học như nhau, khi mọi người có quyền ao ước và có điều kiện vươn lên khỏi chức phận cũ của mình. Tinh thần này, ethos, được diễn tả mạnh mẽ trong tác phẩm "Khuyến học", Gakumon no susume, của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi (1835-1901): "Con người không sinh ra cao quý hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó. Chính những ai lao động siêng năng ở những công việc tìm tòi của họ, và học nhiều, sẽ trở thành cao quý và giàu có, trong khi những ai biếng nhác sẽ trở thành nghèo khó, thấp hèn."
Hai sự kiện sau đây ở thế kỷ 20 minh hoạ thêm óc tò mò học hỏi đặc biệt của người Nhật, điều mà các nhà truyền giáo phương Tây đã ghi nhận khi tiếp xúc với những dân tộc này, so sánh với các dân Trung Hoa hay Hàn Quốc mà họ biết trướcđó. Năm 1922 khi Einstein thực hiện lời mời sang thăm và diễn thuyết khoa học tại Nhật thì nước Nhật vừa có ngay một tuyển tập Einstein gồm bốn quyển. Lúc đó không đâu ở châu Âu hay ở Mỹ có tuyển tập này. Tương tự, ba năm trước đó, 1919, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên xuất bản tuyển tập Các Mác, Ăng-Ghen. Cũng không đâu trên thếgiới, kể cả Nga, Đức là những nơi có phong trào xã hội chủ nghĩa mạnh nhất thế giới có tuyển tập này. Người Nhật quả muốn biết hết những nghĩ gì thế giới trước đó.
Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị Duy Tân kinh doanh gì? Được sách sử ghi lại, đó là công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzencủa Hayashi Yuteki. Năm 1869 ông Hayashi Yuteki mở công ty đầu tiên tại Yokohama có tên Maruya, và năm sau mở thêm cửa hàng thứ hai tại Nihonbashi, khu phố cổ trung tâm sầm uất và thời trang nhất của Tokyo lúc bấy giờ! Năm 1880 Hayashi chuyển doanh nghiệp chính thức thành công ty TNHH Maruzen. Sách là mặt hàng đi đầu trong "cuộc chấn hưng dân khí".Phần lớn các học giả và nhà văn đều là khách hàng của Maruzen, trong đó có hai nhà văn lớn Akutagawa Ryunosuke và Natsume S#seki. Hayashi Yuteki vốn là một thầy thuốc hành nghề rồi sau đó trở thành học trò của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi. Ngoài các hiệu sách, Maruzen còn xuất bản một nguyệt san cho giới văn sĩ, học thuật có tên "Ánh sáng của Khoa học", Gakut#. Một thời gian dài Maruzen là cửa sổ duy nhất nhìn ra phương Tây. [Công ty sách này ngày nay vẫn còn tồn tại, hoạt động rộng rãi, có doanh số năm 1996 hơn một tỉ Euro với 2.100 nhân viên. Khách hàng của họ là nhiều đại học, cơ quan chính quyền và viện nghiên cứu.]
Chúng ta tự hỏi vì đâu mà người Nhật lại có cái đam mê đọc sách cuồng nhiệt và sự đánh giá cao sách vở như thế? Có phải dân tộc này chỉ mê đọc sách thời Minh Trị khi bừng tỉnh sau 'cơn ngủ đông' mấy trăm năm trước đó không? Dân tộc Trung Hoa cũng từng ngủ đông dài như thế,và một số dân tộc khác cùng dòng văn hoá Khổng Mạnh, nhưng tại sao không có cái đam mê đọc sách như dân Nhật?
Một truyền thống lâu đời
Thực ra người Nhật đã có truyền thống đọc sách khủng lâu đời, ít ra từ thời Tokugawa 1600-1686. Trong thời đầu của Tokugawa Ieyasu, người thống nhất đất nước và lập nên triều đại Tokugawa hoà bình 265 năm lâu dài nhất lịch sử, thì chuyện một samurai có thể diễn đạt được ý tưởng của mình một cách mạch lạc trên giấy trắng mực đen là điều hi hữu, và tình trạng mù chữ là bình thường. Văn hoá Nhật Bản trước 1600 là văn hoá võ sĩ. Nhưng vào cuối thế kỷ 18, có thể nói một samurai mù chữ là một điều hụt hẫng đáng buồn, và tới giữa thế kỷ 19, tình hình lại khác nhau một trời một vực.
Trong thời Genroku(1688-1704), được xem là thời vàng son của Tokugawa với kinh tế ổn định, nghệ thuật và văn chương phát triển, Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, đặc trưng bởi sự hiện hữu của nhiều nhà xuất bản lớn, nhiều nhà minh hoạ sách có tiếng và nhiều nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Đây là một con số "khủng" thời đó; Nhật Bản lúc đó chỉ có chừng 20 triệu người, vì thời Minh Trị dân số Nhật Bản khoảng 30 triệu. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hàng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng. (Hiện nay VN chưa có được những bộ danh mục như thế tại các nhà sách).
Con số phát hành 10.000 bản là rất đáng ghen tị cho những nhà xuất bản và tác giả Việt Nam hiện nay, đất nước với gần 90 triệu dân. Trong gần mười năm qua từ khi loại sách khai trí bắt đầu xuất hiện, có mấy tác giả nào có số ấn bản tương đương như thế? Cho nên số ấn bản 10.000 của người Nhật thời Tokugawa cách đây 300 năm quả là con số "khủng"! [Việt Nam lúc bấy giờ đang trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, không hiểu giáo dục và văn hoá đọc sách ra sao.]
Thương mại sách ở Nhật bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ17. Giới đọc sách truyền thống như quý tộc, tu sĩ và thượng lưu trong thành phố được mở rộng sang các giới đại chúng. Mặc dù số lượng phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hoá đọc sách thuê, ra đời trong thời Kan'ei (1624-44), trở nên phổ biến,đặc biệt tại các thành phốlớn như Edo, Kyoto và Nagoya. Các cửa hàng cho thuê sách, kashihonya, đóng vai trò quan trọng ở đây. Cuối thếkỷ18 các cửa hàng cho thuê sách có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Sách vở có thể đi đến tận các hải đảo xa xôi. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho mượn sách ở Nagoya, tên Dais# của S#hachi, như lịch sử còn ghi, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt hoạt động có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho mượn.
Nhật Bản thế kỷ18 có những thành phố lớn phát triển với dân số tập trung cao như châu Âu. Edo có trên một triệu dân, nhất thế giới, hơn cả Paris. Các thành phố khác như Osaka có con số non một triệu. Nhật Bản có văn hoá thành thị, có cả văn hoá salon (zashiki), đời sống sung túc rõ nét như ởchâu Âu thời Trung cổ. Và đó cũng là điểm hấp dẫn đối với giới thương nhân nước ngoài khi họ kêu gọi Nhật Bản mở cửa. [Việt Nam lúc đó chưa được như thế về mặt phát triển kinh tế.]
Chúng ta hỏi: Từ đâu người Nhật có sự đam mê đọc sách như thế? Động lực nào?

Nguồn gốc đọc sách: văn đi trước võ
Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi đã bình định được gần ba trăm phiên trấn (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, phát đi mệnh lệnh như một 'big bang' cho các đại danh, daimy#,chủ phiên trấn và các võ sĩ, samurai: Điều 1 của mệnh lệnh nói: "bun bên tay trái, bu bên tay phải".Bun là văn, sự học, là cây bút, trong khi bu là võ, nghệ thuật chiến tranh, từ đó chữ bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Như thế Điều 1 nói "quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải",và văn đi trước võ, đểcó thểtrịnước lâu bền. Các võ sĩ Nhật dần dần trở thành giai cấp cầm quyền có học.Ở Nhật Bản, cầm quyền là việc của giai cấp của samurai, cha truyền con nối, không phải việc của các Khổng nho như ởTrung Hoa hay Việt Nam, Triều Tiên. Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn với đồng lương thấp. Nhật Bản cũng có xếp hạng"sĩ, nông, công, thương" (shi, n#, k#, sh#) dướiảnh hưởng của Khống giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.
Các daimy# giờ đây phải học văn hoá, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước.Một daimy# có học phải đọc sách hằng ngày. Để phục vụ cho việc học tập của daimy#, và các gia thần, thư viện được thành lập, sách vở được sưu tầm một cách qui mô, và trở thành biểu tượng cho tri thức. Thư viện bao gồm các loại sách về lịch sửNhật Bản và Trung Hoa, các sách về Khổng giáo, Phật giáo và Thần giáo; sách về nghệ thuật quân sự, chiến lược quân sự, địa lý, thiên văn, kinh tế, toán học, y khoa và vô số sách về văn chương cổ điển. Bản thân tướng quân Ieyasu từng lập thư viện cho mình. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất chưa bao giờ thấy trước đó. Fukuzawa Yukichi (1835-1901) đã ghi lại trong "Tây dương sự tình" sự quan sát đặc biệt của ông về các thư viện phương Tây khi ông có dịp đi tham quan:
Trong những thành phố lớn của phương Tây đều có các sưu tập sách được gọi là "thư viện", ở đó tất cả được sưu tầm, từ sách cho nhu cầu hàng ngày đến những loại sách hiếm, và sách trong nước cũng như từ nước ngoài. Người dân đến và có thể đọc quyển sách mình muốn, dù không phải là mỗi ngày. Thư viện Anh có 800.000 quyển, của St. Peterburg 900.000, và của Paris 1,5 triệu. Người Pháp nói rằng, nếu đem tất cả sách xếp nối đuôi nhau, chúng ta sẽ có một chiều dài 7 dặm.

Phát triển giáo dục
Văn hoá đọc sách gắn liền với giáo dục. Tokugawa là thời kỳ của sự bùng nổ giáo dục, hệ thống trường học, phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều đẳng cấp, trường trung ương của shogun, trường phiên của các daimy#, trường tư, cho dân thường và trường hỗn hợp cho cảs amurai và dân thường. Vài con số dướiđ ây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hoá đọc và giáo dục.
Ngoài những trường chính thống dành cho giai cấp samurai của Mạc phủ,như "Hàn lâm Khổng giáo", Sh#heik#, thành lập năm 1630, và trường của các phiên, còn có các loại trường như trường terakoyacho thường dân; trường g#gaku dành cho cả con em samurai lẫn thường dân học chung, được chính thức hỗ trợ từ nhà nước, báo trước loại giáo dục hiện đại phi đẳng cấp sẽ ra đời thời MinhTrị. Ngoài ra có loại trường tư thục,shijuku, privat academies, với khoảng 1.500 trường, từq ui mô nhỏ vài ba chục đến qui mô lớn cả ngàn sinh viên, cạnh tranh với các trường trung ương hay trường phiên, dành cho cảsamurai và thường dân mọi tầng lớp.
Tại phiên Ch#sh#, một trong những phiên quan trọng trong việc lật đổ Mạc phủ để phục hồi thiên hoàng, nhiều samurai nổi loạn và trở thành lãnh đạo của chính phủ Minh Trị đã từng là học trò của nhà yêu nước Yoshida Sh#in (1830-1859) tại trường tư thục do ông thành lập. Shijuku thường phục vụ cho giáo dục cao cấp (advancededucation), đi vào nghiên cứu, là trường của những người muốn tiến thân vào học thuật. Đó là loại trường "vườn ươm nhân tài", bất kể từ đâu đến, samurai hay thương gia, thầy tu, tạo nguồn nhân lực quốc gia, jinzai (human resource), điều cũng được các giới chính quyền trung ương và địa phương ủng hộ. Theo tinh thần của jinzai, việc tuyển mộ nhân sự được dựa trên cơ sở tài năng hơn là nguồn gốc thân thế, và tài năng có thể đi từ phiên này sang phiên khác sống. Ngoài ra còn các trường dạy nghề và trường tôn giáo.
Năm 1868 khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Đây cũng là một con số 'khủng' nữa. Hàng triệu người đã được học hành. [Việt Nam có được bao nhiêu trường học và học sinh lúc đó? Nam Kỳ lúc đó vừa trở thành thuộcđịa Pháp.] Có một ước tính theo đó cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40% con trai và 10% con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học."Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học"như học giả Khống giáo Dazai Jun(1686-1747) viết.
Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Sh#heik# được xây dựng lại năm 1799 thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campusto lớn, nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn là một cái trường đơn giản theo quan niệm của chúng ta. Trường Nisshinkantuy có thể nhỏ hơn nhưng cũng rất lớn. Chúng ta biết rằng tại Hoa Kỳ, các đại học dạng campus hình thành chủ yếu từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?
Nước Nhật bước vào hiện đại hoá không phải từ tro tàn của chế độ cũ, mà ngược lại, được xây dựng trên một nền móng văn hoá đã phát triển cao, đa dạng về nội dung học, và vững chắc. Năm 1872 (cũng là năm sinh của cụ Phan Châu Trinh), tức chỉ bốn năm sau khi vua Minh Trị được phục hồi, một chế độ giáo dục cưỡng bách toàn dân được thực hiện trên khắp nước Nhật, một kỳ công. Điều này sẽkhó có thể được nếu Nhật Bản Tokugawa không có gì cả. Năm 1900 Nhật Bản có tỉ lệ người biết chữcao hơn tỉ lệ của Anh. Đó là một môi trường văn hoá tốt và thiết yếu cho sự phát triển mạnh của khoa học và kỹ thuật.
Nếuđầu thời kỳ Tokugawa lưỡi gươm là quan trọng, thì vào cuối thời Tokugawa thì quyển sách là quan trọng hơn.
Trước áp lực của nguy cơ nước ngoài sự học cổ điển dần dần được hiện đại hoá bằng các môn học phương Tây. Các môn tri thức quân sự, luyện kim, vẽ bản đồ,y khoa, hoá học…, cũng như các môn học về các thể chế chính trị,kinh tế các quốc gia phương Tây có sức hút mạnh mẽ. Các daimy# biết nhìn xa gửi sinh viên tài năng đi học tại Nagasaki hay tại những trường Lan học tại Edo và Osaka. Và trong những năm 1850, 1860 họ thành lập các trung tâm Tây học tại các phiên của họ. Các nhà lãnh đạo của Minh Trị Duy Tân như Saig# của phiên Satsuma, Kido, It# và Inoue của Ch#sh#, Soejima và Okuma của Saga, Got#, Sakamoto và Sasaki của Tosa, Yuri của Fuki, Mutsu và Katsu của Mạc phủ, tất cả đều đã một lần học tại Nagasaki, trung tâm Lan học hiện đại của cả đất nước.
Sự phát triển giáo dục thời Tokugawa gắn liền với sự phát triển văn hoá Edo. Edo là thời kỳ của nghệ thuật và học thuật. Tokugawa chọn con đường đóng kín không phải để suy tàn, mà ngược lại, để phát triển bản sắc Nhật Bản không bị phá rầy, đưa sức sống của dân tộc lên đỉnh cao văn hoá và nghệ thuật, vun xới đạo đức và bản sắc. Đó là thời kỳ của sự tự tôi luyện, sự quyết tâm tự khẳng định mình, biến đổi miếng đất hoang sơ thành một vườn hoa sặc sỡ, phát triển các hình thái nghệ thuật lên cao nhất, để bản sắc Nhật Bản trở thành nền tảng không lung lay được trong thời mở cửa xáo trộn sau, để tài năng Nhật Bản được tinh luyện làm niềm tin của dân tộc. Khi mở cửa, nghệ thuật Nhật Bản đã chinh phục được các quốc gia phương Tây và quốc gia được nể phục.
Tấm bình phong sơn mài hoa Iris của Ogata K#rin (1658-1716), bậc thầy tiên phong về hội hoạ thời Edo, là thời đại hưng thịnh của nghệ thuật, để lại dấu ấn mãi mãi trong lịch sử Nhật Bản. Otaga K#rin là tấm gương lớn của những người trường phái ấn tượng đầu tiên của Pháp. Các cuộc triển lãm tranh nghệ thuật của nghệ sĩ Nhật Bản nửa cuối thế kỷ 19 trong thời mở cửa tại châu Âu cũng như tại Hoa Kỳ đã mang đến cho Nhật Bản một sự công nhận lớn trong lãnh vực nghệ thuật. Không phải chỉcó phương Tây chiếm lĩnh Nhật Bản qua các hiệp định thương mại, mà Nhật Bản đã chiếm lĩnh sân khấu nghệ thuật phương Tây qua nghệ thuật. Van Gogh cũng chịu ảnh hưởng của hội hoạ Nhật Bản. Nhiều người Mỹ thừa nhận tính ưu việt của nghệ thuật Nhật Bản. Một làn sóng lớn, "tsunami", du lịch từ phương Tây, nhất là từ Hoa Kỳ đã đổ sang Nhật Bản vì sự ngưỡng mộ dân tộc đặc biệt này. Người Nhật cảm thấy tự tin khi bước vào sân chơi của cộng đồng các cường quốc.
Lan học, cuộc dịch thuật vĩ đại
Còn một sự kiện 'khủng' khác cần được nói lên ở đây. Đó là cuộc dịch thuật vĩ đại hai thế kỷ của giới trí thức Nhật Bản trong thời Tokugawa tự đóng cửa. Sáu năm sau khi Copernicus qua đời (1543) và tác phẩm cách mạng Về chuyển động quay của các thiên thể xuất bản, Nhật Bản tiếp xúc với những người phương Tây đầu tiên. Nhưng năm mươi năm sau, Nhật Bản, như chúng ta biết, chọn con đường đóng kín cửa, "toả quốc", sokoku, từ 1640 (Việt Nam từ 1630), khi thấy sự phát triển của Kitô giáo là nguy hiểm cho tinh thần dân tộc và cho quyền lực. Nhật Bản chỉ chừa một cửa thông thương duy nhất với Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Sự đóng kín này kéo dài cho đến hết thời Tokugawa năm 1868. Vậy mà trong điều kiện đó, đây là điều Việt Nam không có, trí thức Nhật Bản đã làm một cuộc dịch thuật vĩ đại sách vở phương Tây. Tuy không quyển sách nào thoát khỏi bàn tay kiểm duyệt nghiêm ngặt của Mạc phủ, tuy giới học giả phải làm việc trong điều kiện khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng tính mệnh, nhưng họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đạ itừ cái được gọi là Lan học, rangaku, Dutch learning ("Lan" là gọi tắt của Hà Lan), bắt cầu cho khai trí, khoa học, kỹthuật để Minh Trị Duy Tân bước tới mạnh mẽ.
Trí thức Nhật, nhất là giới bác sĩ, đặc biệt chú ý đến khoa học kỹ thuật từ châu Âu qua các tác phẩm dịch từ tiếng Hà Lan. Họ nhìn thấy trong đó một nền văn minh mới xuất hiện, và ý thức rằng, nếu một ngàn năm trước Nhật Bản đã từng gửi học giả và tăng lữ sang Trung Hoa để học văn hoá, thì nay, họ cũng đang đứng trước một nền văn minh mới đồ sộ cần phải học hỏi, và họ phải tựhọc trong sự dè chừng của Mạc phủ. Qua Lan học- hay Tây học qua tiếng Hà Lan - người Nhật học hầu như tất cả các môn khoa học và công nghệ phương Tây: y khoa, sinh học, thiên văn, toán học, vật lý, hoá học, điện, cơ học, máy bơm, đồng hồ, máy hơi nước, kính thiên văn, kính hiển vi, luyện kim, đúc súng, đóng tàu…Họ thường xuyên theo dõi sự tiến bộ khoa học công nghệ châu Âu. Các thương nhân Hà Lan ngay từ đầu được Mạc phủ yêu cầu hàng năm viết báo cáo (f#setsugaki) cho chính phủ tướng quân về tình hình thế giới, và về cuộc cách mạng công nghệ và khoa học ở châu Âu.
Từ thế kỷ 18, tức khoảng một thế kỷ sau tác phẩm Principia của Newton, các học giả Lan học đã nắm bắt được vật lý Newton, họ đã dịch được các khái niệm như "trọng lực" (j#ryoku), "lực hút" (inryoku), "lực ly tâm" (enshinryoku), "khối tâm" (j#ten, centre of mass) vẫn còn được sử dụng ngày nay. Các học giả Lan học đã hiểu các hiện tượng điện, tĩnh điện, hiểu nguyên lý ắc-quy của Volta đầu thế kỷ 19, chỉ mấy năm sau khi Volta phát minh ở châu Âu. Họ hiểu hoá học của Lavoisier, có thể chế tạo kính thiên văn không lâu sau Hans Lippershey và Galilei đầu thế kỷ 17; chế tạo đồng hồ, máy bơm, súng hơi, chế tạo những con búp bê cơ khí tự động phục vụ trà. Đặc biệt máy hơi nước được Nhật Bản chế tạo lần đầu tiên năm 1853. Người Nhật đã đóng được tàu chiến chạy hơi nước chỉ hai năm sau cuộc gặp gỡ lịch sử với Commodore Perry 1853. Tất cả cũng chỉ dựa trên bản vẽ. Một quan chức Hà Lan bình luận rằng "Tuy có những sự không hoàn chỉnh về chi tiết, nhưng tôi phải ngã mũ trước dân tộc thiên tài có khả năng chế tạo những thứ này mà họ không hề thấy một chiếc máy thực ngoài đời, chỉ dựa trên các bản vẽ đơn thuần."
Cuộc dịch thuật diễn ra trong hai thế kỷ với hàng ngàn cuốn sách được xuất bản và truyền bá trong giới học thuật, làm cho người ta nhớ đến cuộc dịch thuật vĩ đại văn minh Hy Lạp cổ đại và Ả rập vào châu Âu hai thế kỷ 11 và 12 đúng lúc đại học châu Âu đang hình thành, làm cho đại học và khoa học châu Âu phát triển mạnh mẽ. Chỉ có khác một điều: trong khi cuộc dịch thuật ở châu Âu được phần lớn các học giả Ả rập thực hiện thì ở Nhật Bản cuộc dịch thuật được do chính người Nhật thực hiện, những người được đào tạo từ một nền văn hoá rất khác. Phương Đông chưa có cuộc dịch thuật nào như cuộc dịch thuật Nhật Bản phản ảnh trung thực nền khoa học kỹ thuật phương Tây. (Cuộc dịch thuật ở Trung Hoa bởi các nhà truyền giáo bóp méo một phần khoa học vì mục tiêu truyền giáo, và gặp sức ỳ mãnh liệt của sự tự mãn văn hoá Trung Hoa). Đây là một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử giữa Tây và Đông. Hai trăm năm dịch thuật ở Nhật Bản Tokugawa cũng là thời gian tại châu Âu diễn ra các cuộc cách mạng khoa học, công nghiệp dữ dội, tạo nên sự mất cân bằng lực lượng nghiêm trọng trên thếgiới dẫn tới thay đổi lớn lao chưa từng có trong lịch sử loài người. Người Nhật đã biết tiếp cận các cuộc cách mạng đó từ xa để chuẩn bị mình.
Người Nhật không thể yêu nước trong sự mê muội, vô minh, lại càng không yêu nước bằng những nội dung khuôn sáo không thực chất."Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình" với tư cách là người phục vụ đại danh và đất nước, như một lời tự thú của Siguta Gempaku (1733-1817), một bác sĩ tên tuổi và là người đã tạo cú hích quan trọng cho Lan học cuối thế kỷ 18, sau khi ông chứng kiến rằng cấu trúc của cơ thể con người không giống như sách vở của Trung Hoa hay Nhật Bản bấy lâu nay, mà giống chính xác các bản vẽ cơ thể học của một quyển sách từ phương Tây (Tafel Anatomia), sau đó được Gempaku và các đồng nghiệp dịch ngay sang tiếng Nhật, tạo cú hích mạnh mẽ cho phong trào Lan học.
Kết luận
Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có óc tò mò không bao giờ nguôi, tinh thần khao khát học hỏi cái mới mãnh liệt không bao giờ tắt, và khả năng hiểu biết nhanh chóng, để hoàn thiện mình, để bảo vệ đất nước,để "kiểm soát những người man di bằng tri thức của họ", và vì thế họ đọc sách dữ dội, và đã thành công dữ dội.

Thế kỷ thứ bảy và tám họ đã từng vượt biển trong hiểm nguy để học văn hoá Trung Hoa đem về xây dựng nền tảng văn hoá riêng của họ. Rồi một ngàn năm sau, cũng trong khó khăn và nguy hiểm, giới trí thức đã tiến hành cuộc dịch thuật văn hoá phương Tây hai thế kỷ liền, và từ 1868 trở đi một cách bùng nổ, để có thể nhanh chóng hiện đại hoá đất nước với mục tiêu trở thành ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Đó là hai sựkiện trọng đại nhất trong lịch sử văn hoá nước Nhật. Và họ đã thành công. Họ bỏ lại Trung Hoa từng là trung tâm văn hoá đối với họ,để rồi chính Trung Hoa sau đó phải học lại họ. Nhật Bản đã từng trở thành trung tâm văn hoá mới và niềm hy vọng ở phương Đông, thay thế cho cái trung tâm Trung Hoa cũ đang rệu rã.

Nhật Bản là tấm gương "tổng hợp văn hoá Đông Tây" của thế giới mà không mất đi bản sắc sâu đậm của mình. Họ là một tấm gương tuyệt vời của sự tự-khai trí vươn lên. Họ đóng cửa mà không hư hỏng hay hỗn độn. Ngược lại, họ đóng cửa để phát triển các tố chất dân tộc thành tinh hoa, làm bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp vững chắc, không chao đảo khi mở cửa ồ ạt thời Minh Trị.Họ là một dân tộc văn hoá đáng kính phục.
Charles Darwin nói đâu đó trong lá thư gửi cho một người bạn, rằng đối với ông Nhật Bản là một kỳ quan trong những những kỳ quan của thế giới, nếu không muốn nói là kỳ quan lớn nhất.
Chúng ta người Việt Nam nên học văn hoá đọc sách độc đáo của người Nhật, óc tò mò của họ, học để sáng tạo cho đất nước. Nếu chỉ học với mục đích có được một nghề để sống, điều đó quý cho bản thân, gia đình, nhưng dễ dẫn đến sự tự mãn làm cho người ta không đọc sách nữa khi đã đạt được mục đích. Với tinh thần đó, Việt Nam chỉ có cá nhân chứ không có quốc gia. Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế giới và sáng tạo cái mới làm giàu đất nước Việt Nam, điều đó mới giúp cho chúng ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hoá đọc mới có thể thăng hoa. Không phải chỉ vài ngàn, mà hàng triệu các bản sách hay mới có thể được đọc giả hâm mộ và háo hức đón nhận. Và cũng chỉ trên cơ sở đó, nhân dân mới nhanh chóng ấm no, đất nước mới phú cường, giang san mới bền vững.
Mùa Hội sách Thành phố, tháng Ba, 2012
Nguyễn Xuân Xanh

1. Bài viết này là sự rút ngắn từ một bài nghiên cứu chi tiết hơn có cùng tựa đề của tác giả vào mùa Hội sách TP 2012. Một bài tóm tắt 850 chữ được báo Tuổi Trẻ đăng dưới tiêu đề "Không thể yêu nước trong sự vô minh"
(http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/483903/"Khong-the-yeu-nuoc-trong-su-vo-minh".html)
2. Tác giả cám ơn TS Trương Văn Tân (Úc) đã cho nhiều ý kiến quý báu về lịch sử và thuật ngữ Hán-Nhật.


Nguồn: chungta.com

Tổng số lượt xem trang

free counters