Joseph Stiglitz
Yale Global
Cải cách các hệ thống thương mại và tài chính là rất quan trọng
Hàng triệu người có thể thoát nghèo với việc điều hành nền kinh tế toàn cầu tốt hơn.
NEW HAVEN: Trong thập niên 1990 vừa qua, toàn cầu hóa vẫn được nhìn nhận rất tích cực. Rằng “Toàn cầu hóa kiểu Mỹ” sẽ mang lại sự thịnh vượng chưa từng có cho tất cả các nước trên thế giới. Các dòng lưu chuyển vốn đã tăng gấp 6 lần. Đã có nhiều hiệp định thương mại mới được xem như dấu hiệu chuyển tải một kỷ nguyên mới, và các nhà kinh tế bàn tán về những gì mà các hiệp định này sẽ mang lai cho công ăn việc làm, cho sự thịnh vượng ở Mỹ. Nhưng đến cuối thập niên 90 toàn cầu hóa bỗng chốc tỏ ra khác đi. Hội nghị của WTO tại Seatle trên nguyên tắc phải đề ra được một loạt các cuộc đàm phán thương mại mới. Nhưng thay cho một vòng đàm phán mới là những cuộc bạo loạn vô tiền khoáng hậu – trên một phạm vi mà Mỹ chưa từng thấy trong 20 năm qua. Giả sử các hiệp ước thương mại có mang lại sự thịnh vượng cho các nước đang phát triển thì chính họ hình như cũng không biết được điều đó.
Phần lớn sự bất mãn này có lý do chính đáng. Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy khu vực nghèo nhất trên thế giới - vùng Cận
Đối với một số nước, tỷ lệ nghèo đói, dân trí và tuổi thọ bình quân đều được cải thiện nhờ có toàn cầu hóa
Mặt khác, toàn cầu hóa thực sự đã có một số thành công, cụ thể là sự tăng trưởng ban đầu của Đông Á. Trong ba thập niên trước đó, những nước như Hàn Quốc đã mục kích thu nhập bình quân đầu người của họ tăng gấp 8 lần. Nghèo đói hầu như bị xóa bỏ hoàn toàn, tỉ lệ biết đọc biết viết hoàn toàn được phổ cập, các tiêu chuẩn chăm sóc y tế đã được cải thiện, tuổi thọ bình quân tăng - tất cả những thành tựu này đều nhờ vào toàn cầu hóa. Nhưng sự “toàn cầu hóa” này lại phần lớn được định nghĩa theo cách riêng của họ. Tăng trưởng của các nước này dựa trên cơ sở lấy xuất khẩu làm chủ đạo và hấp thụ kiến thức (đặc biệt là công nghệ) từ những nước công nghiệp tiên tiến nhất. Các ví dụ của châu Á chứng minh rằng khi toàn cầu hóa được điều hành đúng đắn, nó có thể mang lại những lợi ích to lớn, không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà thậm chí là tăng trưởng với sự phân phối công bằng (về tài nguyên và thu nhập). Nhưng khi không được điều hành tốt, không được thực hiện một cách có chọn lọc thì nó có thể gây ra những tác động rất bất lợi.
Sự kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra những cơ hội mới cho nỗ lực tạo ra một trật tự kinh tế mới toàn cầu mới, một trật tự kinh tế dựa nhiều hơn vào một tập hợp các nguyên tắc, tư tưởng và ý tưởng về công bằng xã hội. Thế giới đã có cơ hội hình thành một sân chơi bình đẳng mới. Chúng ta đã bỏ qua cơ hội này. Tôi cho rằng đa số mọi người – các nhà làm chính sách, giới học thuật và phần lớn dân chúng - đều chưa có một tầm nhìn rõ ràng về những gì chúng ta muốn hoặc điều gì đáng lẽ phải được tạo ra. Nhưng giới tài chính và thương mại thật sự đã có một tầm nhìn về những gì mà họ muốn. Họ muốn nắm lấy cơ hội này để mở rộng, để tạo ra một thế giới mở cửa ra những thị trường mới cho chính họ, cho các tập đoàn ở những nước công nghiệp tiên tiến. Và họ sử dụng chính phủ Mỹ để thúc đẩy quan điểm này. Vì vậy điều đã xảy ra là Mỹ, và châu Âu cũng tham gia một phần vào việc này – đã sử dụng sức mạnh kinh tế và vị trí của mình như là một siêu cường độc nhất về quân sự và kinh tế. Mỹ sử dụng vị trí của mình để tạo ra một loạt những chính sách rất phi lý, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại. Và giờ đây chúng ta đang gặt hái hậu quả.
Khi chiến tranh lạnh kết thúc, Thế giới đã có cơ hội hình thành một sân chơi bình đẳng mới. Chúng ta đã bỏ qua cơ hội đấy.
Ý nghĩa kinh tế đằng sau những sự bất bình đẳng này là tương đối dễ hiểu. Các yếu tố bất cân xứng đã được lồng vào những hiệp định thương mại, từ đó các nước phát triển có thể đưa ra yêu sách đòi các nước đang phát triển phải dỡ bỏ tất cả các hình thức trợ giá thương mại và tất cả các rào cản thương mại đối với các mặt hàng mà các nước công nghiệp hóa có lợi thế so sánh. Đổi lại thì các quốc gia phát triển không làm gì cả. Hàng sản xuất công nghiệp vốn dĩ là trung tâm của các cuộc thảo luận thương mại trong 50 năm qua, ngày càng trở thành một bộ phận nhỏ bé trong nền kinh tế Mỹ. Số việc làm trong sản xuất công nghiệp hiện đã giảm còn 14% trong tổng lực lượng lao động Mỹ. Do đó nó không quan trọng bằng ngành dịch vụ đang chiếm ưu thế, và như vậy việc Mỹ chú tâm vào lĩnh vực này là lẽ tự nhiên. Nhưng các ngành dịch vụ nào được đưa vào nội dung nghị sự? Chủ yếu là dịch vụ tài chính mà Mỹ có lợi thế so sánh, có thể gọi đây là các ngành xuất khẩu mới của Mỹ. Không nằm trong nội dung nghị sự là các ngành dịch vụ về hàng hải, xây dựng, sử dụng nhiều lao động phổ thông, đó là những loại dịch vụ mà Mỹ không có ưu thế và bảo hộ rất chặt.
Bởi vì toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi cái mà tôi gọi là chương trình nghị sự “đặc ân”, nên những vấn đề căn bản tạo dựng nên quá trình toàn cầu hóa đã không được đề cập đến. Chính hệ thống tài chính toàn cầu gây rắc rối nhiều nhất. Trong 6 năm đã có đến sáu cuộc khủng hoảng tài chính và đó cũng không phải là những cuộc khủng hoảng đầu tiên. Điều đặc biệt phiền toái là trong khi chúng ta nói rằng hệ thống tài chính được toàn cầu hóa này tuyệt vời như thế nào trong việc giải quyết những vấn đề về rủi ro, thì chính các nước đang phát triển đã bị bỏ mặc với gánh nặng của biến động lãi suất và thị trường. Điều đó đã gây ra những hậu quả to lớn đối với các nước đang phát triển. Ở châu Mỹ Latin, vào đầu thập niên 80, nhiều nước đã lún sâu vào khủng hoảng nợ nần. Họ có thể không trả được các khoản vay nợ của mình, nhưng học vẫn buộc phải chịu gánh nặng của lãi suất thất thường.
Toàn cầu hóa được điều khiển bởi một chương trình nghị sự “đặc ân”
Hệ thống được toàn cầu hóa hiện nay còn một vấn đề lớn thứ hai. Hệ thống dự trữ toàn cầu có những điều cực kỳ khác thường và nó chính nguồn gốc gây ra phần lớn sự bất ổn. Một trong những mối quan ngại là Mỹ thực chất đang vay tiền từ những nước nghèo hơn mình rất nhiều. Nói cách khác, nước Mỹ ngày nay đang có mức thâm hụt thương mại khổng lồ, khoảng 600 tỉ đô-la một năm, mỗi ngày vay đến 1,5 tỉ đô-la. Nói một cách khác là quốc gia giàu nhất thế giới này không có khả năng sống bằng những cái mình có. Trong khi đó, Mỹ lại tự mãn đi rao giảng cho các nước nghèo lý do tại sao họ nên sống trong khuôn khổ những tài nguyên hạn hẹp mà họ có.
Quốc gia giàu nhất thế giới này làm không đủ ăn nhưng lại đi rao giảng các nước nghèo nên bằng lòng với những thứ họ có dù là hạn hẹp hơn.
Một số bài học nữa mà tôi cho là sẽ nổi lên từ những sự bất ổn trong hơn 10 năm qua. Thứ nhất là việc tự do hóa thị trường vốn và tự do hóa thương mại có thể khiến các thị trường gặp những rủi ro to lớn. Vì vậy cần phải thiết kế các chính sách một cách thận trọng nhằm xác định thứ tự và tốc độc của các cuộc cải cách. Nếu không các nước có thể chịu nhiều tổn thất lớn mà không được lợi ích gì. Vấn đề thứ hai có liên quan là những khó khăn cơ bản trong việc phân phối rủi ro trong hệ thống dự trữ toàn cầu mà tôi đã đề cập trước đây – các nước lớn hơn cần nhận nhiều trách nhiệm hơn và giảm bớt gánh nặng lên các nước đang phát triển.
Toàn cầu hóa kéo theo sự hội nhập chặt chẽ hơn của các nước trên thế giới và điều này có nghĩa là mức độ phụ thuộc lẫn nhau sẽ cao hơn. Phúc lợi của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta sẽ phụ thuộc vào nước khác và sẽ phụ thuộc vào việc toàn cầu hóa được vận hành như thế nào. Nước Mỹ với vai trò siêu cường duy nhất, có nền kinh tế mạnh nhất, cần phải sẵn lòng gánh vác một vai trò đặc biệt. Có những cải cách có thể giúp cho quá trình toàn cầu hóa hoạt động tốt hơn, tốt hơn cho cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Mệnh lệnh đối với chúng ta là phải thực hiện những cải cách đó nếu chúng ta muốn có một thế giới tốt đẹp hơn và công bằng hơn, hay dù chúng ta chỉ mong muốn có một thế giới an toàn hơn mà thôi.
Joseph Stiglitz từng đoạt giả thưởng Nobel kinh tế, là cựu kinh tế trưởng tại Ngân hàng Thế giới và là giáo sư kinh tế tài chính tại Đại học
Rights: © Yale Center for the Study of Globalization
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét