Hoàng Tụy
GS Hoàng Tụy là một gương mặt trí
thức lớn. 64 năm gắn bó với giáo dục, ý kiến của ông rất có trọng lượng, đáng
cho cả xã hội quan tâm.
PHẦN 1
(…) Làm khoa học ở một đất nước
nghèo khó, tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo
trung học, rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành
trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã
ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò
của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tịch cũng ngày càng đa
dạng.
Được may mắn (chứ không phải rủi
ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực
dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường
đại học khoáng đạt, hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới, nên tôi thường có
dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước
nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển
lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm
trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó
được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh
tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
Hồi còn GS Tạ Quang Bửu làm Bộ
trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và
trình bày về tư duy hệ thống trong các xê-mi-na giáo dục do GS Bửu chủ trì.
Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế, xã hội ngay từ
những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó, cho nên ít nhiều
cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự
vật, chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.
Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai
trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc
này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công
nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả
hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy,giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ
hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.
Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù
trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta
một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém, tụt
hậu như hiện nay, thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7- 8%, thậm
chí 10%/ năm chăng nữa, đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ.
Muốn tăng trưởng kinh tế bền
vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, mà để giáo dục
yếu kém, thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: Thắng
trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây, ông Đại sứ Hoa Kỳ,
sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam, cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt
Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ
cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ, tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một
điều mà, từ nhiều năm rồi, ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh
báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng, thì mới cầu tới Bụt ngoài!
Đó là nội dung thiết yếu hai bản
kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung ương
Đảng, Quốc hội và Chính phủ năm 2004 và năm 2009 (...).
Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15
năm, từng có nghị quyết lịch sử của Hội nghị TƯ 2 khoá VIII, xem phát triển
giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng, mười năm sau đó, Thủ tướng
Chính phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh
vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại hội X và ba Hội nghị TƯ sau đó đều
nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo
dài mấy thập kỷ (…).
May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã
tạo một cú hích, ít nhất về nhận thức. Sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá
nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của
chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã
được nghe Thủ tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục
mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như
đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ tướng, y
như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.
Sau tuyên bố của Thủ tướng,
nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục,
kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung
thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và
yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời
kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi
mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra
khỏi bế tắc, trì trệ.
Trong một buổi làm việc hơn hai
giờ vào khoảng giữa tháng 11/2010, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ trưởng GD
và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này, nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công
cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ.
Trước hết, hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất
hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn giáo
sư, phó giáo sư, xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, v.v.
Tuy nhiên, cho đến giờ phút này,
nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ tướng, tình hình vẫn im
ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại
đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ
chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân, phong kiến hay
sao? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già
nua, cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi.
Đến hẹn lại lên, cả nước lại
chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi
năm hàng chục vạn học sinh, sau 12 năm đèn sách, bị ném bơ vơ ra đời, không
nghề nghiệp, mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên,
sau 3 - 4 năm đại học, vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường
mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.
Tại sao thanh, thiếu niên ta phải
chịu thiệt thòi lớn như vây? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất
nước mà giáo dục đến nông nỗi này?
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân
nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền
không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” - một đất nước như thế thì giáo dục
tụt hậu là tất yếu.Suy cho cùng sự chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào
cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối
trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể
trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại.
Chống tiêu cực trong thi cử,
chống bệnh thành tích ư? Thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh
trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì
đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo
dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích! Còn mua bằng, bán điểm,
chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng
đầu, bằng “vốn tự có”, hay gì gì đó thì đố ai biết quy mô đến đâu. Có điều chắc
chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và, kèm theo đó, bạo lực học đường
chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn (…).
PHẦN 2
Giáo dục là một hệ thống
phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành
như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh
đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến
lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới”
liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công
sức, tiền của, mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu
sinh khí, thường xuyên trục trặc.
Trong một thế giới biến chuyển
cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi
mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức
nhối kéo dài hết năm này qua năm khác.
Không đâu cần bốn chữ cần, kiệm,
liêm, chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần
tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức
tính cơ bản ấy, tất nhiên, sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy
những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như
vừa qua không những không có tác dụng, mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì
trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng
lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục
thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.
Không đi sâu vào những việc quản
lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo
dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải
công nhậnchất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì
để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào
chi tiết vụn vặt không thực chất.
Thứ nhất là chuyện học
và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn
càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi
nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện
đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học
sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà
thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có
bằng thì càng tốt.
Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng
nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn
thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên
lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn
toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác.
Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục
của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời
trung cổ ở châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển
cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay
chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có
thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại
trong khi phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã
sớmthế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu
cho nhà trường Việt Nam
để bước vào kinh tế tri thức thời nay.
Thứ hailà chuyện đào tạo theo nhu
cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân
lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo
ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hằng năm có hàng chục vạn học
sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu
“nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một
số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ
từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán,
ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá
nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất ít trung cấp kỹ thuật.
Cơ cấu đào tạo khiến trong nước
rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng
thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận
xét: Chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá, nhưng ngay một chiếc đinh vít
cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công
nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì
tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm
trung gian. Rôt cụcchỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công
nghiệp hiện đại? Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật Bản đã khuyến cáo:
Vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai
phát triển kinh tế của Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt
Nam trong khu vực Đông-Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo
dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ.
Cho nên có nhìn rộng ra cả nền
kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu
đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục,
theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: Sau trung học cơ sở, phần
lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào
trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo
hướng không phân ban cứng nhắc, mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển
năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện
nâng cao chất lượng đại học. Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời
thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh
cửa chật hẹp của đại học hiện nay.
Thứ ba là xây dựng đại học.
Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia
ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là
thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học.
Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và
tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào
tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà
khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng
chẳng giống ai!
Mặc dù đã trải qua mấy chục năm
trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không
chỉ phải đổi mới, mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến
cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp
quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu
không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tích, phô trương, cộng với tính vô
trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình
tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.
Thứ tư và cuối cùng nhưng
then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý
nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy
giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất
nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như
trong mấy chục năm nay.
Khi nói điều này không phải tôi
không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi
nghĩ số đó vẫn là số ít - số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội
và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng
với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn
nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế
này đó thật sự là kỳ công.
Song cái gì cũng có giới hạn, kể
cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm
cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ (…), chẳng còn gì để bàn về giáo dục,
văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế
liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba
mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc
ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc, rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải
để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý
mới làm tốt được nhiệm vụ.
Vậy nên giải quyết cái u này là
điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc
sách hàng đầu. Tuy nhiên, cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không
minh bạch, đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy
hiểm.
Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin
cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo
dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét