QUYỀN LỰC
[Phần 5]
Chương V
VƯƠNG QUYỀN
Nguồn gốc của
vua chúa cũng như của tu sĩ có từ thời tiền sử; ta
chỉ có thể suy ra những giai đoại tiến hóa đầu tiên của
vương quyền từ những lề lối còn sót lại của những bộ tộc man rợ chậm
tiến nhất. Khi mà thể chế đã hoàn toàn phát triển, nhưng chưa bắt đầu
suy yếu, vua là người đưa bộ tộc hoặc quốc gia lâm chiến,
là người quyết định chiến tranh hay hòa bình. Thường thường ông ta
đặt ra luật lệ và kiểm soát luôn việc hành xử công lý. Việc lên ngôi
có phần nào truyền tập. Hơn thế nữa nhà vua còn là một nhân vật
linh thiêng: nếu không phải là một vị thần ít nhất ông cũng thay
mặt cho Thượng Đế. Nhưng trước khi đạt tới vương quyền đã tiến
hóa đến như thế, ta phải giả thiết là đã có chính
quyền lâu dài và đã có một cộng đồng tổ chức hoàn bị hơn
cộng đồng của những kẻ man di mọi rợ rất nhiều. Ta không thấy ở những bộ lạc
thật sự sơ khai hình ảnh vị chúa mọi gần với tưởng tượng của phần đông người
Âu. Người mà người ta coi là tù trưởng có lẽ chỉ có những nhiệm vụ nghi lễ
và tôn giáo mà thôi; đôi lúc ông ta chỉ tổ chức tiệc tùng, tiếp tân giống như
vị thị trưởng. Đôi khi ông ta tuyên chiến, nhưng ông sẽ không tham dự chiến
trận, vì ông thiêng liêng quá. Đôi khi không có thần dân nào dám nhìn thẳng vào
mặt ông vì sợ vía của ông, điều này hiển nhiên ngăn chặn không cho ông hoạt
động trong những lãnh vực công cộng. Ông ta không thể làm luật vì luật được
quyết định theo tập quán; người ta cũng chẳng cần tới ông khi thực thi luật
pháp vì trong một cộng đồng nhỏ hẹp chính kẻ láng giềng có thể tự động áp dụng
hình phạt. Một vài cộng đồng man rợ có tới hai thủ lãnh, một thủ lãnh đời và
một thủ lãnh đạo; giống như Tướng quân và Thiên hoàng ở nước Nhật cổ xưa chứ
không giống như Hoàng đế và Giáo hoàng vì vị thủ lãnh tôn giáo chỉ có quyền lo
việc tế tự. Giữa những kẻ man rợ nói chung, tập tục quyết định quá nhiều
trong khi chính quyền quyết định quá ít nên những kẻ nổi bật mà người Âu châu
mệnh danh là tù trưởng chỉ có những hình thức hết sức mờ nhạt của vương quyền.
Sự di dân
và ngoại xâm là hai sức mạnh phá hoại tập quán nên cũng góp phần
không nhỏ tạo ra nhu cầu phải có chính quyền. Ở mức văn minh thấp khi
người cai trị đáng gọi là vua, hoàng gia đôi khi có nguồn gốc ngoại lai và tạo
được kính trọng lúc đầu do một ưu thế rõ rệt nào đó. Nhưng vấn đề đây có là một
giai đoạn thông thường hay hiếm hoi trong việc tiến hoá của nền quân chủ vẫn là
một vấn đề mà các nhà nhân chủng tộc vẫn đang còn tranh luận.
Chiến tranh
hiển nhiên góp phần gia tăng quyền lực vua chúa rất nhiều, vì khi chiến
tranh việc thống nhất chỉ huy trở thành một nhu cầu rõ ràng.
Cách dễ dàng nhất để tránh sự nguy hại do việc tranh giành ngôi báu
là việc áp dụng quyền truyền tập; vì vậy ngay khi nhà vua
phải chỉ định kẻ kế vị, hầu như chắc chắn ông ta chọn một người
trong gia đình. Nhưng không triều đại nào tồn tại mãi được và kẻ khai sáng một
hoàng tộc thường là một tên thoán nghịch hay một kẻ chinh phục ngoại bang.
Thường thì tôn giáo hợp thức hoàng gia mới bằng một nghi thức cổ truyền nào đó.
Vào những dịp may này quyền lực tu sĩ được lợi vì được coi là hỗ trợ uy tín
hoàng gia. Charles I đã nói: “Không có giám mục, không có nhà vua”, và điều này
thật đúng trong mọi thời đại vua chúa. Chính vì vậy mà những kẻ nhiều tham vọng
thấy ngôi vua hấp dẫn đến độ chỉ có những chế tài tôn giáo quyết định mới khiến
họ gạt bỏ hy vọng làm vua.
Dù ta
không biết rõ những giai đoạn phát triển từ một thủ lãnh sơ khai
thành một vị vua, ta thấy tiến trình này đã hoàn tất ở Ai cập và Babylonia vào thời tối sơ của lịch sử thành văn. Ta biết
rằng Đại-Kim-Tự-Thápđược xây cất vào khoảng 3000 năm trước Thiên chúa và chỉ có
một vị vua có uy quyền vô hạn mới có thể thực hiện một đại công tác tốn kém như
vậy. Vào thời kỳ này ở Babylonia có một vị vua
tuy không ai có lãnh thổ so sánh nổi với Ai cập, nhưng họ là nhà cai trị có đầy
đủ uy quyền trên lãnh thổ của họ. Trước khi kỷ nguyên thứ ba ngàn năm trước
Thiên chúa chấm dứt, chúng ta thấy xuất hiện đại đế Hammurabi (2123-2081 trước
Tây lịch) một vị vua xứng danh. Ông nổi tiếng nhất nhờ bộ luật do Thần Thái
Dương trao phó và Ông làm được một việc mà các nhà Trungcổ bất lực là đặt các
toàán tôn giáo dưới quyền các toàán quân sự. Ông còn là một quân nhân và kỹ sư
tài ba. Các thi sĩ ái quốc đã nhiệt liệt ca ngợi những chiến thắng của ông:
Hammurabi đại đế anh hùng
Chẳng bao giờ ngưng tỏ lộ uy
phong
Quyết đánh gục quân
thù Cơn địa chấn
Phải san bằng bình địa đất tàn
hung
Chính ông đã
nghi lại những công trình dẫn thuỷ nhập điền của mình như sau: “Khi
thần Anu và nữ thần Enlil cho ta đất đai vùng Summer và akkad để cai trị và
giao phó cho ta quyền trượng của các vị, ta đào con kinh Hammurabi sự phồn
thịnh của dân chúng để dẫn thuỷ vào vùng Summer và Akkad. Ta đã quy tụ những
dân cư sống rãi rác ở Summer và Akkad về một
chỗ; ta đem đến cho họ đồng cỏ và nước; ta đem lại cho họ sự sung mãn và phồn
thịnh và để cho họ vui sống trong những căn nhà bình yên”.
Thể chế vương quyền đã phát triển đến tuyệt mức ở thời Ai cập vào
thời Đại-Kim-Tự-Tháp và ở Babylonia dưới triều
vua Hammurabi. Quyền lực của các vua Ai cập chỉ chấm dứt do ngoại xâm, chứ
không phải bị nổi loạn. Đúng là họ không thể để xảy ra sự rắc rối với giáo
quyền vì ý nghĩa tôn giáo của vương triều có sự ảnh hưởng đến sự phục tòng của
thần dân; không kể tới phương diện này họ có quyền năng vô hạn.
Ở đa
số các đô thị, người Hy Lạp không coi các nhà vua là những nhà cai
trị chính trị cho tới lúc khởi đầu thời kỳ hữu sử. Các vua chúa La mã có từ
thời kỳ tiền sử, nhưng người La mã không ngừng tỏ lộ ác cảm của họ với danh vị
hoàng đế trong suốt lịch sử của họ. Ở Tây phương, Hoàng đế La mã không bao giờ
là một quân vương đúng nghĩa. Nguồn gốc của họ không có ghi trong luật pháp của
họ, và ông phải tuỳ vào quân đội ông có thể xưng mình là thần thánh với dân
chúng, nhưng với binh sĩ ông chỉ là viên tướng giỏi hay không mà thôi. Trừ một
vài thời kỳ ngắn ngủi, đế quốc thường không thế tập. Quân đội luôn luôn nắm
quyền và Hoàng đế là người được ủy nhiệm vào giai đoạn đó. Cuộc xâm lăng của
những rợ phương Bắc lại được tái lập chế độ quân chủ, nhưng lần này chế độ đã
biến cải. Những ông vua mới này là những thủ lãnh của những bộ lạc Nhật Nhĩ
Man, và họ không có được những quyền lực tuyệt đối. Họ phải dựa vào sự cộng tác
của một số Hội Đồng Bô Lão hay những tổ chức tương tự. Khi một bộ lạc Nhật Nhĩ
Manchinh phục xong một bộ tỉnh La mã, vị thủ lĩnh trở nên vua nhưng những tùy
tướng quan trọng của ông được nâng lên hàng quý tộc; và thường là họ được tự do
hành động tới một mức độ nào đó. Từ đó nảy sinh ra hệ thống phong kiến khiến
các quân vương Tây âu đã bị các công hầu lấn át.
Do đó
chế độ quân chủ còn yếu cho tới khi quy tụ được những phần tử ưu tú
của cả Giáo hội lẫn giới phong kiến quý tộc. Chúng ta đã xét qua những nguyên
nhân dẫn đến sự suy yếu của Giáo hội trong chương IV. Ở Anh và Pháp những quý
tộc lao mình vào tranh chấp với nhà vua nên khó có tổ chức chính quyền đàng
hoàng. Ở Đức những lãnh tụ quý tộc trở nên những ông vua tầm thường và kết quả
là Đức suy yếu hơn Pháp. Ở Ba Lan tình trạng vô chính phủ quý tộc tiếp tục cho
tới khi xảy ra cuộc Phân Ly. Ở Anh và Pháp sau trận Chiến Tranh Trăm Năm Và
Những Trận Chiến Hoa Hồng (The Wars of The Roses)
[1] dân chúng
chỉ tin vào những vị vua mạnh. Edward IV chiến thắng nhờ sự giúp đỡ của thành
Luân Đôn và ông cũng đã chọn hoàng hậu ở đó. Là bạn gái của giai cấp trưởng giả
thượng lưu. Louis XI là một kẻ thù của giai cấp quý tộc phong kiến. Giai cấp
này giúp ông chống lại bọn quý tộc, còn ông giúp họ đè bẹp bọn thợ thuyền.
Trong cuốn Đại Bách Khoa Từ Điển Anh, người ta ghi: “Louis XI cai trị theo lề
lối của một nhà đại tư bản”.
Các vương
triều thời Phục hưng có một lợi điểm lớn khi ta nhìn lại các cuộc tranh chấp
với Giáo hội của các vị vua trước. Lợi điểm này chính là giới tu sĩ không còn
giữ độc quyền giáo dục. Các luật gia thế tục cũng đã góp phần không nhỏ trong
việc thiết lập chế độ quân chủ mới.
Các
chế độ quân chủ mới ở những quốc gia Anh, Pháp và Tây
Ban Nha ở trên Giáo hội và trên cả quý tộc. Quyền lực của
họ được sự hỗ trợ của hai thế lực đang lên? chủ nghĩa quốc gia và chủ
nghĩa thương mại. Các chế độ này còn tồn tại vững vàng khi nào chúng còn
hữu ích đối với sự phát triển của chủ nghĩa quốc gia và thương mại, nhưng khi chúng
thất bại thì cách mạng phải bùng nổ. Dòng Tudors không có lỗi lầm vào về cả hai
phương diện. Nhưng họ Stuarts đã cản trở công việc giao thương khi các quần
thần một số độc quyền khiến cho Anh quốc bị hết Tây Ban Nha đến Pháp dày xéo.
Vương triều ở Pháp ưu đãi thương mại và cũng cố thế lực quốc gia cho tới cuối
thời của Colbert. Sau đó một loạt chiến tranh và sưu cao thuế nặng cũng như
việc miễn thuế cho giới tu sĩ và quý tộc đã khiến cho phong trào quốc gia và
dân thương mại chống lại nhà vua, và sau cùng tình trạng đó đưa đẩy đến cách
mạng. Tây Ban Nha tránh được cuộc loạn ly nhờ cuộc chinh phục Tân thế giới,
nhưng rồi chính Tân thế giới thuộc Tây Ban Nha nổi loạn để có thể giao thương
với Anh, Mỹ.
Dù
thế giới thương mại có giúp vua chống lại tình trạng rối loạn phong kiến
chăng nữa, nó luôn luôn có tính cách cộng hoà khi nó cảm thấy đủ mạnh. Tình
trạng này đã xảy ra từ cổ thời, ở các đô thị Bắc Ý và Hansiatic và ở Hà Lan vào
những ngày rực rỡ nhất. Do đó sự liên minh vương quyền và thương mại có nhiều
sóng gió. Các vua chúa thường viện dẫn tới Thiên ý và tìm mọi cách làm cho
quyền lực của họ trở nên truyền thống và nhuốm tính cách tôn giáo. Họ đã thành
công một phần: việc hành quyết Charles I bị coi là phạm thánh nghĩa là còn nặng
hơn tội thường rất nhiều. Ở Pháp thánh Louis được tôn sùng đến nỗi người ta coi
vua Louis XV như một vị vua mộ đạoThiên chúa nhất dù ông ta tồi tàn về đủ mọi
phương diện. Vì đã tạo được một nhóm quý tộc trưởng giả trong triều, các vua
chúa thường có khuynh hướng ưa chuộng nhóm này hơn là bọn trưởng giả tư sản. Ở
Anh quốc bọn quý tộc cao cấp và bọn đại trưởng giả tư sản liên kết với nhau để
đặt một ông vua với danh nghĩa đại nghị bù nhìn chẳng còn chút uy quyền cũ nào
cả: Chẳng hạng George I chẳng thể sửa đổi tình trạng lép vế của nhà vua dù cho
nữ hoàng Anne có thể làm được điều đó. Ở Pháp nhà vua chiếm được giai cấp quý
tộc và rồi cả nhà vua lẫn giai cấp quý tộc đều chết chém.
Sự liên minh
giữa chủ nghĩa quốc gia và thương mại bắt đầu từ khi có liên minh Lombard dưới thời Frederic Barbarossa, dần dần lan khắp
Âu Châu, tạo ra chiến thắng cuối cùng những ngắn ngủi nhất trong cách mạng
tháng hai tại Nga. Bất cứ nơi nào sự liên minh này nắm được quyền lực dựa trên
đất đai, lúc đầu liên kết với chế độ quân chủ rồi sau này nghịch lại. Rốt cuộc
các vua chúa biến mất ở khắp nơi hoặc trở thành bù nhìn. Nay thì chủ nghĩa quốc
gia và thương mại đã tách khỏi nhau; ở Đức, Ý và Nga chính chủ nghĩa quốc gia
đã thắng thế. Phong trào tự do đã bắt đầu thắng thế ở Milan vào thế kỷ mười hai đã hoàn tất vai trò
của nó.
Quyền lực
cổ truyền nếu không bị huỷ hoại từ bên ngoài hầu như tiến
triển theo một chiều hướng nào đó. Vì quyền lực cổ truyền thường được người ta
có thói quen kính trọng nên sau này dễ trở nên khắc nghiệt và bất cần lưu tâm
tới sự đồng tình chung, mà nó tin là không bao giờ mất được. Nó dần dần khiến
người ta nghi ngờ không hiểu đằng sau quyền lực cổ truyền có phải là Thiên ý
hay không, sau biết bao nhiêu lười biếng, điên rồ và độc ác. Vì những kính
trọng này chỉ là thói quen nên một khi công kích nổi dậy, nó dễ bị đánh đổi.
Một vài tín niệm mới có ích cho những phản kháng, thay thế cho những tín niệm
cũ; hay đôi khi như trường hợp Tahiti khi được Pháp trao trả tự do, chỉ có rối
loạn thôi. Thường phải có một thời gian cai trị tồi tệ lâu rồi ý thức nổi loạn
mới lan rộng; và trong nhiều trường hợp hững kẻ nổi loạn chiếm được chính họ
một phần hay tất cả quyền uy cũ. Cho nên Augustus đã thu hút được danh dự cổ
truyền của Thượng viện; các tín đồ thệ phản vẫn giữ lòng tôn kính với thánh
kinh trong khi từ chối tôn sùng Giáo hội Công giáo, quốc hội Anh dần dần đoạt
quyền của vua trong khi giữ nguyên niềm kính trọng đối với chế độ quân chủ.
Tuy nhiên tất
cả các biến cố trên chỉ là những cuộc cách mạng giới hạn; những
cuộc cách mạng triệt để hơn gặp nhiều khó khăn hơn. Sự thay thế đột ngột
nền quân chủ bằng chính quyền cộng hoà thường đưa tới nhiều rối ren vì một hiến
chế mới khó khắc phục ngay được những thói quen tinh thần, và nó chỉ được kính
trọng khi nó phù hợp với tư lợi. Do đó những kẻ nhiều tham vọng sẽ tìm cách trở
thành nhà độc tài và sẽ chỉ suy bại sau một thời kỳ thất bại trầm trọng. Nếu
không có giai đoạn như vậy, một hiến chế cộng hoà sẽ không thu hút được tâm
tình quần chúng, điều rất cần cho ổn định. Hoa kỳ là một thí dụ hầu như duy
nhất của một tân cộng hoà ổn định từ khởi thủy.
Phong trào
cách mạng chính của thời đại chúng ta là cuộc tấn công của chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa xã hội vào quyền lực kinh tế của các tư nhân. Chúng ta có
thể hy vọng tìm thấy ở đây những đặc điểm chung của các phong trào như Tân giáo
hoặc dân chủ chính trị vào hồi hưng thịnh của Thiên chúa giáo. Nhưng tôi sẽ bàn
về vấn đề này nhiều hơn trong phần sau.
Chương VI
BẠO LỰC
Khi những tin
tưởng và tập tục đã từng hỗ trợ quyền lực cổ truyền lụn bại đi, thì một hình
thức quyền lực dựa trên niềm tin mới, hoặc dựa trên bạo lực xuất hiện (bạo lực
ở đây hiểu theo nghĩa quyền lực không đặt nền tảng của sự thuận tình của đa số
dân chúng). Đó là quyền lực của anh đồ tể đối với lũ trâu bò, quyền lực của
những kẻ xâm lăng đối với quốc gia chiến bại, và của cảnh sát với những kẻ phản
loạn bị bại lộ. Ta đã thấy quyền lực của Giáo hội Thiên Chúa đối với tín đồ thì
hoà dịu, nhưng quiyền lực trở nên bạo đối với những ke rối đạo. Đối với công
dân trung thành, quyền lực của nhà nước mang tính cổ truyền, nhưng nó là bạo
lực với những kẻ phản loạn. Những tổ chức chính quyền nắm quyền lâu dài thường
trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn mà nhà cầm quyền dựa vào
tin tưởng nồng nhiệt khiến họ có thể vận dụng được sức mạnh dùng vào việc chinh
phục kẻ khác; tiếp đó là quyền lực mới này được cộng đồng chấp nhận và trở nên
quyền lực cổ truyền trở nên một cách mau chóng; và cuối cùng là võ lực được
người ta sử dụng để chống lại những kẻ từ chối quyền lực truyền thống: đây
chính là bạo lực. Những đặc tính của một chính quyền thay đổi rất nhiều khi nó
trải qua những giai đoạn này. Sau một thời kỳ chinh phục quyền lực quân sự của
những kẻ chinh phục không còn quyền lực thuần túy nữa. Ta đã thấy tất cả những
tỉnh bị người La mã chinh phục bằng võ lực, đã trở thành thần dân trung thành
của đế quốc, chỉ trừ xứ Judea: sau khi thôn
tính bằng võ lực và sau một thời gian cai trị ôn hoà của người La Mã, nhiều xứ
không còn muốn độc lập nữa. Ở Á châu và Phi châu khi trước, những quốc gia từng
theo Thiên chúa và bị người Hồi giáo chinh phục chỉ hơi miễn cưỡng sống dưới sự
trị của những kẻ trị vì này. Ở Anh, sau nhiều thế kỷ bị trị, xứ Wales đã nhập
vào nền cai trị của Anh quốc. Cũng tại Anh quốc những cuộc chinh phục của người
Normans đã
thiết lập được một hoàng gia mới ở đó và một thời gian sau, họ đã được dân
chúng tôn sùng. Xem vậy chinh phục quân sự chỉ có thể tạo lập được ổn định khi
nó được tiếp nối bằng chinh phục tâm lý. Ta có rất nhiều ví dụ về biến cố như
vậy.
Ở những nơi
không bị ngoại xâm, bạo lực thường dẫn tới hai trường hợp: đầu tiên là trường
hợp một hay nhều tín niệm cuồng nhiệt được người ta vận dụng để nắm quyền binh;
trường hợp thứ nhì là trường hợp những tin tưởng cổ truyền bị băng hoại mà
không có tin tưởng mới nào thế vào đó, đến độ không còn giới hạn nào cho tham
vọng cá nhân. Trường hợp thứ nhất không hoàn toàn phải dùng tới bạo lực vì yếu
tố phụ thuộc vào niềm tin của giới cai trị khiến họ không dám sử dụng tận mức
bạo lực. Tôi sẽ duyệt vấn đề này ở chương sau, dưới nhan đề quyền lực cách
mạng. Bây giờ tôi chỉ xét trường hợp thứ hai mà thôi.
Định nghĩa
về bạo lực thường có tính cách tâm lý, và một số chính quyền có thể là bạo
quyền đối với một số thần dân của nó nhưng lại rất mực ôn hoà với thần dân
khác. Trong những thí dụ lịch sử mà tôi được biết, nếu không kể tới những
trường hợp ngoại xâm, những chế độ tàn bạo của những bạo chúa Hy Lạp và một vài
tiểu quốc thời Phục hưng ở Ý là những thí dụ hoàn toàn nhất.
Như
trong một phòng thí nghiệm, lịch sử Hy Lạp cho chúng ta những chứng nghiệm nhỏ
trên một tầm mức rộng lớn, rất thích thú với những sinh viên muốn tìm hiểu
về quyền lực chính trị. Ở Hy Lạp quyền lực vua chúa truyền tập thời
Homer đã chấm dứt trước thời kỳ hữu sử và sau đó là một nền cai trị quý tộc
trưởng giả có tính cách truyền tập. Vào lúc mà người ta ghi chép được lịch sử
của những đô thị Hy Lạp thời khai sinh, giữa đám quý tộc trưởng giả và những
bạo chúa có nhiều tranh chấp. Chỉ trừ ở Sparta
bạo quyền bao giờ cũng chiếm được ưu thắng trong một thời gian, và sau đó chính
quyền dân chủ hoặc trưởng giả quý tộc ngự trị. Thời đại bạo quyền đầu tiên ở Hy
Lạp đã bao trùm hầu hết ở thế kỷ thứ 6 và thứ 7 trước Tây lịch. Tuy nó chưa hẳn
là kỷ nguyên của bạo lực hoàn toàn như nhiều thời đại sau này mà tôi sẽ lưu tâm
cách đặc biệt, nhưng nó đã dọn đường cho sự miệt thị luật pháp và tàn bạo vào
những thời kỳ sau này.
Tiếng “bạo
chúa” lúc đầu không hàm chứa những tính xấu nơi kẻ cai trị,
nhưng chỉ là vì thiếu vắng danh nghĩa hợp pháp hoặc cổ truyền. Nhiều bạo chúa ở
thời kỳ sơ khai rất mực khôn ngoan, và đã được thần dân ủng hộ. Thường thì
những kẻ thù bất công của họ là những quý tộc trưởng giả. Đa số những bạo chúa
thời đầu tiên là những tay nhà giàu đã dùng tiền mua được quyền lực và dùng
những phương tiện kinh tế duy trì quyền lực hơn là sử dụng những phương tiện
quân sự. Ta nên so sánh những nhà cai trị này với họ Medeci hơn là những nhà
độc tài trong thời đại chúng ta.
Thời đại bạo
quyền đầu tiên là thời đại mà người ta biết sử dụng tiền, và nó
đã làm gia tăng quyền lực của những kẻ giàu có y hệt như giấy bạc và tín dụng
ảnh hưởng tới quyền bính trong thời đại chúng ta. Cho tới nay vẫn còn nhiều
người còn tin rằng bạo lực có liên hệ với việc sử dụng tiền tệ, nhưng điều này
tôi không dám lạm bàn, có điều ta biết chắc là việc thủ đắc những mỏ bạc là một
hỗ trợ cần thiết cho bất cứ kẻ nào muốn trở thành bạo chúa. Việc sử dụng tiền
tệ vào lúc mới đầu nhằm gây ảnh hưởng nơi kẻ khác, đã làm rối loạn sâu xa những
tập tục cổ truyền, như ta thấy nhiều nơi thuộc Phi châu chưa từng bị bảo hộ của
người Âu. Ở Hy Lạp vào những thế kỷ sáu và bảy trước Tây lịch, việc sử dụng
tiền bạc gây uy thế đã khiến cho lực của giới thương mại gia tăng và làm giảm
quyền bính của quý tộc phú hào. Mãi cho tới khi người Ba Tư đoạt được Tiểu Á,
những trận đánh trong thế giới Hy Lạp ít xảy ra và không mấy quan trọng: những
công việc sản xuất giao cho nô lệ làm cũng không nhiều. Trong những hoàn cảnh
trên, những điều kiện lý tưởng cho quyền lực kinh tế khiến cho những quyền lực
cổ truyền suy yếu có nhiều phần giống như chủ thuyết kỷ nghệ đối với thế kỷ 19.
Cho tới chừng
nào mà mọi công dân sống trong cộng đồng đều có sống được cuộc đời sung
túc và thoải mái, sự suy yếu của quyền lực cổ truyền thường có lợi hơn là có
hại. Nơi dân Hy Lạp nó dẫn tới sự tiến bộ mau lẹ của nền văn minh hơn bất cứ
nơi nào khác - chỉ trừ bốn thế kỷ mà nhân loại vừa trải qua. Sự tự do của triết
học, khoa học và nghệ thuật Hy Lạp nhờ vào một thời kỳ phồn thịnh không bị
những tin tưởng quái quắt cản trở. Tiếc thay kiến trúc xã hội không vững vàng,
và các cá nhân không có nổi những tiêu chuẩn luân lý cần thiết để có thể tránh
được những tội ác tày trời khi đức hạnh không còn được con người coi trọng nữa.
Một loạt những trận chiến đã khiến cho số dân sống tự do sút giảm và làm gia
tăng số người nô lệ. Sau cùng chính Hy Lạp cũng rơi vào tay thống trị của
Macedonia, trong khi sứ Sicily thuộc thời kỳ hậu Hy Lạp, dù gặp phải những cuộc
cách mạng dữ dội, những cuộc nội chiến và bạo quyền gia tăng đã tiếp tục chống
lại được Carthage, rồi La mã. Tuy nhiên ta phải lưu tâm tới sứ Syracuse vì đó là nơi mà bạo lực đã đạt cực
độ, mà cũng vì chúng đã ảnh hưởng tới Plato (qua học thuyết của ông). Plato là
người từng bất hoà với Dionysius the Elder và tận tụy làm học trò trẻ tuổi hơn.
Nhãn quan của nhân vật Hy Lạp vừa kể (Plato,…), cùng với thời kỳ tuỳ thuộc đã
chịu ảnh hưởng của những tiếp xúc bất hạnh giữa họ với Dionysius the Elder và
những kẻ kế tiếp ông trong nền bạo quyền xứ Syracuse.
Grote viết như
sau: Guồng máy biển lận, nhờ vào đó mà họ đánh lừa được dân chúng, khiến dân
chúng hạ mình thần phục trong một thời gian được coi là bước đầu để những tay
cầm quyền bính dùng võ lực để kéo dài sự thống trị trên đầu trên cổ dân chúng
họ, và sự tuân phục cách đó không ai hài lòng cả, đó là nơi dung dưỡng những
tay thoán đoạt xứ Hy Lạp. Ta không biết rõ những bạo quyền hồi đầu trầm trọng
tới mức nào, nhưng trong những bạo quyền sau này, tính cách quân sự nặng nề hơn
kinh tế là điều có thật. Ta hãy lấy một thí dụ theo lời mô tả của Grote, dựa
theo những trang sử của Dionysius đang lên. Vào thời đó quân đội của Syracuse
vừa bị Carthage đánh bại và dưới một chế độ tương đối có ít nhiều dân chủ họ đã
bị phỉ bang thậm tệ; và Dionysius viên lãnh tụ được lựa chọn trong số những tay
cự phách của những trận khốc liệt, đã lớn tiếng đòi hỏi trừng phạt những viên
tướng bại trận.
“Giữa sự im
lặng là lo lắng bao trùm quốc hội
Syracuse,
Dionysius là người đầu tiên đã đứng dậy kết án họ. Ông đã khoa trương về
một đề tài thích ứng với tâm lý của cử tọa cùng với những ý kiến riêng của ông.
Ông đã gay gắt tố cáo những viên tướng là đã phản lại nền an ninh của Syracuse
trước kẻ thù Carthage và như thế là đã phản bội những kẻ gục ngã mới đây ở
Agrigentum, cũng như sự nguy kịch đè nặng trên mọi người đều tùy thuộc vào đó. Ông
gay gắt với những thất bại của họ, những thất bại có thực cũng như những tưởng
tượng, không chỉ với phẫn nộ và cay nghiệt mà còn cả với sự dữ dội tàn nhẫn
loại hết những giới hạn của một cuộc tranh luận hợp hiến, và như thế muốn đưa
cho những viên tướng một tàn sát ngoại luật, hệt như những cái chết của những
viên tướng tiên phong mới đây ở Agrigentum
[2] “Bọn phản
bội, chúng ngồi đó, không cần phải đợi một phán xử hợp pháp hay biện minh nữa,
hãy bắt chúng ngay và xử đi cho gọn”. Sự kết án tàn bạo như thế là sự tấn công
nhằm chống lại luật lệ cũng như trật tự quốc hội. Các vị thẩm phán đã phản đối
Dionysius như kẻ phá rối trật tự và kết án ông ta làm như họ là những kẻ đầy
quyền năng của luật pháp. Nhưng Dionysius đã thừa uy thế vì được sự hỗ trợ của
những kẻ đầy thế lực ở
Syracuse.
Philistus không những đã không kết án Dionysius mà lại còn công khai tuyên bố
sẽ sẵn sang tiếp tục suốt ngày để đánh đổ những lập luận của phán quan. Nhờ đó
Dionysius càng bạo tợn hơn với thứ ngôn ngữ như trên. Tính chất kết tội bất hợp
pháp lúc khởi đầu giờ đã trầm trọng do sự miệt thị pháp luật. Tuy nhiên
quyền hạn các phán quan lại khá ư mềm yếu, trong khi tiếng la hét chống lại họ
quá mãnh liệt. Trong tình trạng đó họ không thể trừng phạt cũng không thể làm
suy giảm được cường độ của các diễn giả. Dionysius thừa thắng xông lên, tiếp
tục hò hét trước đám đông với giọng điệu còn bốc lửa hơn trước, không những chỉ
kết án các viên tướng là đã phản bội ở Agrigentum, nhưng còn tố cáo các công
dân giàu có và nổi tiếng nói chung, như là những kẻ độc quyền chỉ huy và đối xử
với khối đông quần chúng bằng miệt thị, cũng như đã thủ lợi do bất hạnh của đô
thị. Theo ông, Syracuse không bao giờ được cứu vãn nếu quyền hành không nằm
trong tay những người có đặc tính khác hẳn; những kẻ được lựa chọn để lãnh đạo
không do bề thế, nhưng phải là từ những nơi tăm tối, thuộc về dân
chúng họ và hành động vì ý thức được sự yếu kém
của họ.
Và Dionysius đã trở thành bạo chúa theo cách vừa kể. Điều đáng tiếc
là lịch sử thường chẳng có can dự chi tới bất
cứ lợi điểm nào dành cho những kẻ tăm tối nghèo hèn.
Quả thật ông ta đã tịch biên gia sản của những nhà giầu, nhưng
chính cái bọn cận thần của ông mới là những kẻ được phân chia
những gia tài ấy. Ngay sau khi tước được binh quyền, vẻ bình dân
của ông mất đi ngay. Ta sẽ lại thấy Grote viết trong một vài
trang sau: “…Cảm thấy rõ ràng hơn bao giờ hết là sự cai
trị của ông không phù hợp với nguyện vọng của dân Syracuse,
và vì sự cai trị chỉ dựa hoàn toàn vào bạo lực,
nên ông đã tổ chức đội cận vệ quanh ông cẩn thận, có lẽ còn
hơn bất cứ bạo chúa Hy Lạp nào từ trước tới đó”.
Lịch
sử Hy Lạp còn đặc biệt ở sự kiện là chỉ trừ
có Sparta,
ảnh hưởng của quyền lực truyền thống rất yếu; hơn thế nữa hầu
như họ không có cả một nền luân lý chính trị.
Herodotus kể lại rằng không một công dân nào của Sparta có thể từ chối ăn hối
lộ. Khắp Hy Lạp, công kích một chính trị gia nào ăn hối lộ của
Hoàng đế Ba Tư là điều vô ích vì những kẻ chống đối
lại những chính trị gia đó cũng là cá mè một lứa. Kết quả
là sự tranh chấp quyền lực cho cá nhân mình bằng phương pháp hối lộ, tham
nhũng, đã dẫn tới những trận đánh đẫm máu và những vụ ám sát thảm khốc. Trong
việc này, những người bạn của Plato và Socrates là những kẻ liều mạng nhất.
Như ta
có thể thấy, kết quả là Hy Lạp lệ thuộc vào quyền bính
ngoại lai.
Nhiều người
thường than tiếc cho Hy Lạp vì mất độc lập và thường
nghĩ đến Hy Lạp như thể những người Hy Lạp ai cũng là Solon hoặc
Socrates.
Nay ta cũng
chỉ tìm thấy được rất ít lý do để coi xem chiến thắng của
La mã đối với xứ Sicily
hậu Hy Lạp có những gì khác hơn nữa chăng. Tuy nhiên, không còn minh
chứng nào hùng hồn hơn về bạo quyền bằng cuộc đời của Agathocles,
kẻ cùng thời với Alexander Đại Đế, sống từ năm 289 đến 361 trước
Thiên chúa, và đã là bạo chúa ở Syracuse suốt hai mươi tám
năm cuối đời ông.
Syracuselà đô
thị lớn nhất trong những đô thị Hy Lạp, mà ta cũng
có thể coi đó là thành phố lớn nhất vùng Địa Trung Hải. Đối
thủ duy nhất của Syracuse là Carthage, luôn luôn tranh
chấp nhau chỉ trừ một giai đoạn ngắn ngủi khi cả hai bên đều
bị suy bại trầm trọng. Những đô thị Hy Lạp khác khi thì đi với Syracuse lúc bắt tay với Carthage tùy theo khuynh hướng chính
trị của phe nhóm nắm quyền tại những xứ đó. Ở những đô
thị ấy đám quả đầu ưa chuộng chế độ quả đầu, trong khi đám
dân nghèo ưa chuộng hình thức dân chủ. Nhưng khi những đồng minh dân
chủ thắng lợi, các lãnh tụ của họ thường thành công trong việc
biến mình thành độc tài, bạo chúa. Những kẻ thuộc nhóm chiến bại thường
bị lưu đày hoặc trốn sang gia nhập vào những đạo quân của những đô
thị mà thể chế chính trị khác với nơi
họ bị truy nã. Tuy nhiên, thành phần chính của lực lượng quân sự tại
những đô thị này lại là những lính đánh thuê, và phần lớn không
phải dân Hy Lạp.
Khi
ấy ở Syracuse,
Agathocles là một nhân vật xuất thân bần hàn của một người thợ đồ
gốm. Nhờ vào vẻ đẹp trai mà ông đã được Demas, một tay
nhà giầu ở Syracuse
sủng mộ. Ông này đã để lại tất cả tiền bạc của cải cho
Agathocles và Agathocles đã cưới bà vợ góa của Demas. Ông là một viên
tướng xuất sắc nơi trận mạc, nên bị quốc hội nghi ngờ là có manh
tâm thiết lập bạo quyền. Ông bị bắt giữ và lưu đầy
và người ta ra lệnh thủ tiêu ông trên đường lưu đầy. Nhưng
như tiên đoán trước âm mưu này, ông thay đổi y phục cho một bần dân
và người này đã bị giết nhầm. Sau này ông tới Sicily
và tạo ra một đạo quân ở Sicily,
đạo quân này khiến Syracuse
kinh hoàng đến độ phải ký hòa ước với ông. Ông được dân Syracuse chấp nhận trở lại Syracuse và ông đã tuyên thệ ở đền
thờ Ceres là ông sẽ không làm gì nguy hại tới nền dân chủ.
Khi Agathocles trở lại Syracuse,
chính quyền ở đó là một tập hợp giữa dân
chủ và quả đầu chế. Quốc hội Syracuse gồm sáu trăm người giàu nhất đô
thị. Lập tức, Agathocles kêu gọi tới chính nghĩa của kẻ nghèo nhằm chống lại
bọn quả đầu phú hào. Trong một buổi hội thảo chung với bốn người
trong đám quả đầu, ông ta đã ra lệnh cho binh sĩ giết hết đám đó lấy
cớ là họ âm mưu chống lại ông. Rồi ông đưa quân lính
vào đô thị, đàn áp tất cả quốc hội, giết hết những ai
ló mặt ra đường; cuối cùng nhiều người đã bị tàn sát tập thể.
Diodorus kể: “Nói cho ngay, ngay cả đền thờ mà người ta chạy tới tìm
sự an ổn nơi che chở của thần thánh cũng không còn an toàn nữa; lòng
thành kính đối với thần thánh cũng đã bị đánh gục bởi sự tàn bạo của con
người, và người Hy Lạp chống người Hy Lạp ngay trên quê hương thân yêu của
họ, bà con thân thuộc chống lẫn nhau, không thèm đếm xỉa đến
trật tự tự nhiên hay tình cảm liên đới. Họ liều lĩnh phạm tội.
Trong tình trạng đó, bạn bè, kẻ thù, hay bất cứ ai khác không
thể làm gì hơn là than tiếc cho cái điều kiện khốn
khổ của những kẻ bị ngược đãi đó”.
Những
kẻ thuộc phe Agathocles ban ngày giết người và ban đêm lùng kiếm đàn
bà con gái. Sau hai ngày tàn sát, Agathocles đã giết hết các tù nhân
chỉ trừ bạn ông là Dinocrates. Rồi ông ta triệu tập quốc
hội, kết tội bọn quả đầu phú hào, tuyên bố ông sẽ thanh trừng tất
cả những kẻ sủng ái chế độ quân chủ ra khỏi đô thị,
và chính ông, ông sẽ sống một đời biệt lập. Vì vậy ông đã
cởi bỏ binh phục và mặc áo mufri. Nhưng những kẻ cướp
bóc đô thị vào lúc ông chỉ huy lại muốn ông nắm quyền,
và ông được đề cử làm viên tướng duy nhất của đạo quân đô
thị. Nhiều kẻ nghèo khó trong số có những
kẻ nợ như chúa chổm của đô thị rất tán thành cuộc cách
mạng này, vì Agathocles hứa hẹn chia đất cho kẻ nghèo. Như
vậy ông đã lẫy lừng một thời.
Lâm trận,
Agathoclose tháo vát và can đảm, nhưng khinh xuất. Đã có lúc quân Carthage gần
như toàn thắng; họ bao vây Syracure và thủy quân của họ đã
chiếm được hải cảng. Nhưng Agathoclose, cùng với một đạo binh lớn,
dong buồm qua Phi châu, rồi ông ta đốt hết tàu để chúng khỏi rơi vào
tay quân Carthage.
Sợ có nội loạn khi ông vắng mặt, ông bắt con nít đem theo làm
con tin. Sau đó ít lâu, em ông, kẻ đại diện cho ông ta
ở Syracure, trục xuất tám ngàn chính trị gia đối lập, và những người
này được Carthage
kết thân. Ở Phi châu lúc đầu ông thành công một cách đáng ngạc nhiên,
ông chiếm Tunis, vây Carthage khiến chính quyền Carthage hốt hoảng và đã
vận động để khuyên giải Moloch. Khi ấy Moloch đang nắm quyền hành tại Carthage. Khi trước, lúc
con trẻ của những nhà trưởng giả ở Carthage phải chịu hy
sinh tế thần, họ thường có thói quen mua con nhà nghèo để
thế vào đó; cách thức như thế bây giờ bị dẹp
bỏ hẳn và người ta được biết là Moloch hài lòng hơn với việc hy
sinh con trẻ những nhà quí tộc trưởng giả. Sau cải cách này
số phận Carthage
bắt đầu hàn gắn được.
Trong khi
đó Agathoclose cần có viện binh gởi tới Cyrene, do Ophelas một trong số những
cận tướng của Alexander trấn giữ. Agathocloes cho Ophelas biết là với
sự giúp đỡ của Ophelas, Carthage
có thể bị đánh bại và Agathocloes không mong
gì hơn là ở yên ở Sicly. Ông cho biết là ông
tỏ ý mong muốn là những chinh phục dính dấp tới Châu phi sẽ được
Ophelas gánh vác. Bị cám dỗ bởi những lời hứa hẹn ấy, Ophelas
đưa quân qua sa mạc, và sau cuộc hành trình cực nhọc bắt liền được
với quân của Agathocloes. Nhưng Agathocloes đã giết ngay Ophelas và bảo
cho quân lính của Ophelas biết rằng họ chỉ an toàn nếu chịu làm việc
dưới quyền của ông ta. Rồi ông ta vây Utica,
đột kích bất thần và bắt được ba trăm tù binh tại trận; ông ta
trói ba trăm tù binh này vào những cơ giới phòng chủ để dân Utica muốn
tự vệ phải giết chính dân mình. Dù thành công trong việc này, địa
vị của Agathocloes đã bắt đầu gặp nhiều khó khăn khi ông
có lý do để e ngại rằng con trai ông là Archagatus đang gây mối bất
bình lớn trong quân đội. Vì thế ông bí mật trốn về Sicly.
Quân đội phẫn nộ về việc đào thoát này, đã giết Archagatus
lẫn người con trai khác của ông. Điều này khiến ông giận đến độ giết
hết đàn ông, giết đàn bà con nít nào ở Syracuse có liên hệ với bất
cứ người lính nào ở đạo quân phản ấy. Trong một thời gian
quyền bính của ông ở Sicly vượt qua được những thăng trầm. Ông chiếm
được Aegesta giết hết những bần dân ở đó, đồng thời hành hạ đám
dân giầu cho tới khi nào họ chịu khai ra chỗ giấu của. Đàn bà và
trẻ con bị bán làm nô lệ cho dòng họ Bruttu
trên đất liền.
Đời sống của gia
đình ông, tôi lấy làm ân hận mà nói ra đây, cũng chẳng hạnh phúc gì.
Vợ ông đã gian díu với con trai ông; một trong hai đứa cháu ông, đứa nọ
giết đứa kia, và một đứa đã dụ được quân hầu tẩm thuốc độc vào tăm xỉa
răng của ông. Hành động cuối cùng của ông, khi biết mình khó thoát khỏi bàn tay
tử thần là khẩn nài thượng viện đòi hỏi trả thù thằng cháu ông; nhưng hàm ông
đã cứng lại, ông không thể nói được nữa vì thuốc độc đã ngấm. Dân chúng nổi dậy
và người ta phải vội vã đưa ông lên dàn hỏa táng trước khi ông ta chết
thật sự. Của cải của ông bị tịch thâu và người hoan hỉ kể lại là nền dân
chủ đã được cứu vãn.
Ý đại lợi thời
Phục hưng cũng cho ta hình ảnh rất gần gũi với Cổ Hy Lạp, nhưng hỗn loạn còn
lớn hơn thế nữa. Sau kiểu mẫu chính quyền kiểu Hy Lạp, còn có những nền cộng
hòa nằm trong tay một nhóm thiểu số, cả nhưng bạo chính, những lãnh địa phong
kiến và thêm vào đó những tiểu quốc của Giáo hội. Giáo hoàng, chỉ trừ
có Ý Đại Lợi, đòi mọi người phải giữ niềm tôn kính, nhưng con trai
ông là Cesare Borgia không cần dùng tới thuyết phục. Ông ta sử dụng bạo lực.
Cesare Borgia
và cha ông là Alexander vì là những thí dụ quan trọng,
không phải bởi riêng những hành động của họ nhưng còn vì do cảm hứng
bởi Machievelli. Một biến cố trong đời họ, theo lời phẩm bình của
Creighton sẽ minh dẫn thời đại này. Dòng họ Cololla
và Orsini là trở ngại cho quyền uy của các Giáo hoàng trong
nhiều thế kỷ; cho tới thời Cesare Borgia họ Cololla đã thất thế,
nhưng họ Orsini vẫn còn phần nào uy lực. Alexander ký hòa ước với
họ và mời thủ lãnh của họ là Hồng y Orsini tới Vatican. Khi
biết tin là Cesare đã tóm bắt hai nhân vật quan trọng thuộc họ Orsini
vì đã phạm tội gian lận, Hồng y bị giữ ngay khi vừa gặp mặt Giáo
hoàng, mẹ của ông ta đã phải trả hai ngàn Ducats để được phép
gởi thực phẩm vào nuôi và người tình của ông đã tặng Giáo hoàng một
chuỗi hạt trai đắt tiền mà Giáo hoàng từng khao khát. Tuy nhiên Hồng y
Orsini vẫn rục xương trong tù. Ông bị đầu độc bằng rượu độc theo
lệnh của Alexander VI theo lời người ta đồn đãi. Nhưng lời bình luận của
Creighton về biến cố này cho thấy rõ những đặc điểm của một bạo
quyền.
“Thật
đáng ngạc nhiên là hành vi gian trá đó đã không gây nên một phản ứng nào
và Giáo hoàng lại có thể thành công quá sức tưởng tượng, nhưng với nền chính
trị nhân đạo của Ý đại lợi, mọi chuyện xảy ra tùy vào tài khéo đạo diễn
của những kẻ trong cuộc. Đám lính đánh mướn chỉ là một công cụ không hơn không
kém, và bất cứ khi nào bọn này bị đổi đi nơi khác, dù là do xảo trá chăng
nữa họ không có cách chi cưỡng lại nổi. Sự sụp đổ của họ Orsini và Virtellozo
không tạo ra một trở ngại nào cho quyền bính của những kẻ chiến thắng. Các đạo
quân Condotteri chỉ đáng sợ chừng nào họ còn theo những viên tướng của họ;
nhưng khi những viên tướng đã bị thay thế, quân lính liền phân tán và gia nhập
những đạo quân khác… nhiều người khâm phục vẻ lạnh lung tỉnh táo của Cesare
trong lãnh vực khuynh loát này”…
Ở cổ Hy
Lạp và nước Ý thời Phục hưng, ta đã thấy một nền văn minh rất cao và một tình
trạng luân lý rất suy đồi đã chung sống với nhau, cả hai thời kì này đều phơi
bày những đỉnh cao của thiên tài và những vực thẳm của sự sa đọa tinh thần.
Và điều đáng buồn nhất là những tên khốn nạn và những thiên tài đã sống
chung để huề với nhau. Leonardo đã xây thành quách cho Cesare Borgia; một số
môn đệ của Socrates đã trở nên những bạo chúa ghê gớm nhất; đệ tử của Plato đã
nhúng tay vào những hành động ô nhục ở Syracuse,
và chính Aristotle đã kết hôn với cháu gái một bạo chúa. Trong cả hai thời kỳ,
sau khi nghệ thuật, văn chương và giết chóc phồn thịnh trong khoảng độ một trăm
năm mươi năm, tất cả đã bị những nước kém văn minh hơn nhưng đoàn kết hơn
từ phương Tây và phương Bắc tới tiêu diệt. Trong cả hai trường hợp việc mất độc
lập đã lôi kéo theo cả sự suy đồi văn hóa, mất ưu thế thương mại và nghèo đói
khủng khiếp.
Nhưng những
thời kỳ mà bạo lực ngự trị thường ngắn ngủi và thường chấm dứt
bằng một trong ba cách sau đây: cách thứ nhất là do ngoại xâm
như trường hợp Hy Lạp và Ý. Cách thứ hai là lập một
nền độc tài ổn định chẳng bao lâu sẽ trở thành truyền
thống; thí dụ đáng chú ý nhất là đế quốc của Augustus sau
thời kỳ nội chiến dài dặc từ Marius cho đến khi Antony thất bại. Cách
thứ ba là sự xuất hiện của một tôn giáo mới, chữ tôn
giáo ở đây hiểu theo nghĩa rộng nhất. Thí dụ hiển nhiên
nhất của điều này là cách Mohammed thống nhất những bộ lạc rời
rạc ở Ả Rập. Nếu Nga sô có đủ thực phẩm để xuất
cảng có lẽ chủ nghĩa cộng sản đã lan tràn khắp Âu châu và chấm dứt sự
ngự trị của bạo lực trong bang giao quốc tế sau cuộc Đại chiến.
Ở những bước
chuyên dùng bạo lực không chỉ trong phạm vi đối nội mà còn cả trong phạm vi đối
ngoại, những phương pháp thủ đắc quyền lực sẽ tàn bạo hơn bất cứ nơi nào khác.
Machiavelli đã trình bày vấn đề này thật rõ ràng. Ta hãy nghe ông tán tụng
những biện pháp tự vệ của Cesare Borgia trong trường hợp Alexander VI băng hà
như sau:
“Ông quyết định hành động theo
bốn cách. Trước hết là ông diệt hết những gia đình các lãnh chúa
mà ông đã bóc lột cũng như đã cướp hết đất đai của họ để cho Tân
Giáo hoàng không thể nào tái lập được địa vị của họ nữa. Thứ đến là mua
chuộc những nhà quý tộc thành La Mã về phía mình để kìm hãm Giáo hoàng. Thứ ba
là tìm mọi cách thâu đoạt sự ủng hộ của các Hồng y trong Hồng y đoàn. Thứ
tư là tạo uy thế riêng cho mình càng nhiều càng tốt trước khi Giáo hoàng
Alexander VI băng hà để ông có thể tự mình đối phó với tình thế.
Khi Alexander mất đi, ông đã
hoàn tất ba trong bốn mục tiêu trên vì ông đã giết chết hết những lãnh
chúa nào mà ông tóm được, chỉ một số rất nhỏ trốn được
mà thôi…”
Người ta
có thể dùng phương pháp thứ hai, thứ ba và thứ tư bất cứ khi nào,
nhưng phương pháp thứ nhất chắc chắn sẽ làm công luận bàng hoàng trong một
thời kỳ có chính quyền ổn định. Một thủ tướng Anh
không có lấy chút hy vọng củng cố địa vị mình bằng cách ám sát
lãnh tụ phe đối lập. Nhưng ở nơi nào bạo lực hoành hành chẳng ai thèm
để ý làm chi tới khía cạnh luân lý cho thêm mệt.
Quyền
lực được coi là bạo lực khi người ta tuân phục
nó chỉ vì nó là sức mạnh chứ không vì bất
cứ lý do nào khác. Như vậy một hình thức quyền lực truyền thống
sẽ trở thành bạo lực ngay khi nó không còn sự thuận tình
của đa số dân chúng nữa. Ta thấy ngay là những thời
kỳ có tự do tư tưởng và phê bình gay gắt
dễ có khuynh hướng trở nên những thời kỳ thống trị của
bạo lực. Ta đã chứng kiến sự việc này ở Hy Lạp
và ở nước Ý thời Phục hưng. Trong cuốn đầu của tác phẩm
Thể Chế Cộng Hòa, Plato đã trình bày một lý thuyết thích hợp với
bạo lực, qua lời nói của Thracymachus. Thracymachus nói: “Lý thuyết của
tôi thế này: công lý chỉ là quyền lợi của kẻ mạnh hơn”.
Ông ta trình
bày tiếp:“Mỗi chính quyền đều có những luật lệ được quy định thích hợp với
quyền lợi riêng của nó: một nền dân chủ làm luật dân chủ; một nền chuyên chế
làm những luật độc đoán… do đó có những chính quyền long trọng tuyên bố những
điều chỉ hợp với quyền lợi của chúng mà dân chúng vẫn phải thi hành; và kẻ nào
đi sai đường lối sẽ bị kết án nghiêm khắc. Cho nên nếu ta chịu khó lý luận cho
đàng hoàng thì quyền lợi của kẻ mạnh ở đâu cũng chỉ chính đáng cả”.
Nhưng
ở bất cứ thời nào hoặc nơi nào mà quan điểm này được chấp nhận,
nhà cầm quyền sẽ không còn bị kìm hãm chút nào về phương diện
luân lý nữa, vì người ta không còn thấy những hành động gọi
là để duy trì an ninh và trật tự, thật đáng ghê tởm nữa,
ngoại trừ những kẻ trực tiếp chịu những hành động này. Vì vậy
các kẻ nổi loạn chỉ chùn tay khi họ thấy nguy cơ thất bại.
Và nếu những phương tiện tàn bạo có thể mang lại thành công,
họ không còn phải e ngại bị mang tiếng vì những hành động đó.
Theo
lý thuyết của Thracymachus thì một cộng đồng ổn
cố chỉ có thể tồn tại khi chính quyền đó có đủ
sức mạnh trực tiếp về phương diện vật thể. Do vậy người ta không
thể tránh được một bạo quyền quân sự. Còn những hình thức khác của
chình quyền chỉ có thể ổn định nếu sự phân quyền tồn tại trong tổ chức chính
quyền ấy được tôn trọng, nhờ ở tác động của một niềm tin. Nhưng tin tưởng loại
này thường không được nghiêm chỉnh cho lắm. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, do
sự thuận tình chung, quyền lực chỉ thu hẹp cho hoàng gia, cho đám quý tộc, bọn
phú hào, cho phái nam (chứ không cho phái nữ) và cho giống da trắng (chứ không
phải cho người da màu). Nhưng khi con người khôn ra thì người ta gạt bỏ những
điều quái đản trên, và như vậy những kẻ nắm quyền bắt buộc phải thỏa hiệp với
người khác hay xử dụng bạo quyền. Nhân loại phải theo một lý thuyết nào khác
hay hơn cái lý thuyết của Thracymachus mới mong khá được.
Tôi dành một
chương sau cho phần duyệt xét những phương pháp (khác hơn thói mê tín
dị đoan) thâu đoạt sự đồng tình chung đối với một hình thức
chính quyền. Bây giờ là lúc tôi nghĩ nên đưa ra một số nhận
định sơ khởi. Đây không hẳn là một vấn đề hoàn toàn nan giải
vì người ta đã hoàn toàn giải quyết ở Hiệp chủng quốc rồi (ta
khó có nói nó đã được giải quyết tại Anh vì một yếu
tố chính của sự ổn định ở đây là long tôn kính vương
quyền). Hơn nữa mọi người đều phải tin tưởng vào những điều hữu lợi của một
chính quyền trật tự. Những người giàu nghị lực phải có cơ hội làm
giàu hoặc trở nên quyền thế bằng những phương tiện hợp hiến. Ở nơi
nào mà những cá nhân giàu khả năng hay nghị lực thuộc giai cấp
nào đó bị chận đường tiến thủ, chẳng chóng thì chầy tình trạng
rối loạn rồi cũng sẽ xảy ra. Sau nữa ta cũng phải cố ý chấp nhận
một quy ước xã hội nhằm xây dựng một xã hội trật tự, những quy ước
này không được bất công trắng trợn đến nỗi gây nên đối kháng khắp nơi. Một
quy ước như thế sẽ trở thành truyền thống nếu thành công được
một thời gian và sẽ có sức mạnh của quyền lực truyền thống.
Một độc
giả ngày nay thấy cuốn Xã Ước của Rousseau không có gì đáng
gọi là cách mạng, và khó hiểu tại sao các chính quyền khi xưa
lại e ngại quá sức. Tôi nghĩ lý do chính
là vì nó đặt căn bản quyền lực chính phủ trên một qui ước được
chấp nhận vì những nguyên do hợp lý, chứ quyền lực không
thể có căn bản là lòng tôn kính vua chúa một cách mù quáng,
mê sảng. Phản ứng của các chính quyền cũ đối với các thuyết của
Rousseau cho thấy người ta khó mà đồng ý ngay được về một căn
bản chính quyền không dựa vào những tin tưởng huyền hoặc. Có lẽ điều
này không thể thành tựu ngay được khi ta quyết định quét sạch mê tín
cách đó một cách đột ngột. Muốn bắt đầu ta phải cho họ thực tập
về sự hợp tác tự nguyện. Khó khăn lớn lao là lòng kính
trọng luật pháp rất quan yếu cho trật tự xã hội, nhưng một chế độ
truyền thống lì lợm không thể nuôi dưỡng nổi lòng kính trọng này,
và dĩ nhiên trong cuộc cách mạng ta phải quên nó đi. Những
vấn đè này ta phải giải quyết cho kỳ được nếu ta muốn có những
cộng đồng trật tự mà đồng thời trí thông minh của ta
vẫn được tự do hoạt động.
Bản chất của
vấn đề này đôi khi bị ngộ nhận. Thực là thiếu sót nếu ta
chỉ quan niệm một hình thức chính trị hoàn hảo mà không nêu căn
nguyên tạo loạn. Điều cần thiết đối với một lý thuyết gia là tìm
kiếm một hình thức chính quyền có thể thực hiện được sự trung
thành nhằm ngăn chặn bất cứ cuộc nổi dậy nào. Đây là vấn đề trong
thuật trị nước thật tế và ta phải lưu tâm tất cả những tin
tưởng cũng như những thiên kiến của đám đông. Có nhiều
kẻ lại quá ngây thơ đến độ tin rằng hầu như bất kỳ một
nhóm người nào, hễ đã nắm được guồng máy nhà nước,
là có thể tạo ra sự thuận tình chung với những phương tiện
tuyên truyền trong tay. Tuy nhiên lối lập luận này có nhiều khuyết điểm.
Như ta thấy gần đây việc tuyên truyền của nhà nước đã bất lực
khi đối phó với tình cảm quốc gia ở Ấn Độ và Ái
nhĩ lan (trước năm 1921). Phải khó khăn lắm, tuyên truyền mới thu
phục nổi tình cảm tôn giáo mãnh liệt. Nó có thể đi ngược lại quyền
lợi của đa số tới đâu và được bao lâu vẫn còn là
vấn đề khó trả lời. Dù sao ta cũng phải công nhận
là công việc tuyên truyền của nhà nước càng ngày xem chừng càng hữu
hiệu hơn. Chúng ta sẽ xét những vấn đề đã nêu ra kỹ hơn
ở những phần sau.
Cho
tới đây tôi đã nói về quyền lực chính trị, còn trong lãnh vực
kinh tế vai trò của bạo lực cũng quan trọng không kém. Marx coi những
tương quan kinh tế đều do bạo lực chi phối, chỉ trừ ở một
cộng đồng xã hội chủ nghĩa tương lai. Trái lại Elie Halevy, sử gia
quá cố của chủ thuyết Bentham đã có lần cho rằng tiền công
trả cho một người là chính số tiền anh ta tin tưởng
có giá trị tương xứng với công việc mình làm. Chắc chắn điều này
không đúng với nhiều tác giả: riêng phần tôi, tôi nghĩ tác phẩm
có giá trị nhiều chừng nào thì tiền bản quyền
nhận được ít chừng đó. Và nếu những nhà kinh doanh ăn nên
làm ra thực tình nghĩ rằng số tiền họ thu vào
có giá trị tương xứng với những việc họ làm thì họ phải
là những tên ngu xuẩn hết chỗ nói (vì công bằng mà nói công việc
họ làm có giá trị gì đâu). Tuy vậy xét cho
kỹ thì lý thuyết của Halevy cũng có phần đúng. Trong một
cộng đồng ổn định ta không thể để cho một tầng lớp rộng lớn nào
bị chèn ép bất công, bóc lột quá đáng; suy ra ở nơi nào không
có bất công lớn lao về phương diện kinh tế, phần đông người ta
không cảm thấy tiền lương của mình bị rẻ mạt. Trong những quốc gia
chậm tiến, đời sống của các cá nhân tùy thuộc phần lớn vào môi trường
mà hắn sinh sống. Điều chính đáng đối với hắn thường là điều hắn
thường quen thấy dù những điều này là nguyên nhân nỗi khổ đời
hắn. Nhưng ngay cả trong trường hợp này công thức của Halevy đã đảo
lộn cả nguyên nhân lẫn hậu quả: tập tục khiến con người cảm thấy điều
này hay điều khác chính đáng chứ không phải ngược lại. Trong trường hợp này
quyền lực kinh tế có tính cách truyền thống; nó chỉ trở nên
bạo lực khi các tập cũ bị xáo trộn hay bị chỉ trích thậm
tệ vì một lý do nào đó.
Vào thời
kỳ kỹ nghệ còn ấu trĩ, không có một tập tục nào điều hòa
mức lương bổng và thợ thuyền chưa liên kết được với nhau. Hậu
quả là tương quan chủ thợ là một tương quan bạo lực,
trong những giới hạn mà nhà nước cho phép; và lúc đầu những
giới hạn này rất rộng rãi. Các kinh tế gia chính thống đã phán rằng tiền
công của thợ không chuyên môn phải luôn luôn ở mức chết đói, nhưng
họ quên rằng muốn thế họ phải cấm công nhân có quyền lực
chính trị. Marx cho đây là một vấn đề quyền lực, nhưng ông đã không
lưu ý đúng mức tới quyền lực chính trị so với quyền lực kinh tế.
Ta có thể loại trừ các nghiệp đoàn công nhân (cơ quan gia
tăng quyền thương thuyết và mặc cả của công nhân) nếu như công
nhân không có dự phần trong quyền lực chính trị; những
nghiệp đoàn có lẽ đã bị tê liệt tại Anh nếu không
có việc công nhân thành thị có quyền bỏ phiếu từ năm 1868.
Vì có tổ chức nghiệp đoàn nên lương bổng không còn
bị quy định bằng quyền lực nữa, mà qua những cuộc thương thuyết,
như khi ta mua bán những đồ thiết dụng vậy.
Vai
trò của bạo lực trong kinh tế lớn hơn người ta tưởng rất nhiều, trước
khi Marx gây ảnh hưởng trong lĩnh vực này. Điều này quá rõ ràng
trong một số các trường hợp: tên lục lâm thảo khấu đòi tiền mãi
lộ khách đi đường; kẻ chinh phục cướp bóc dân bại trận đều đã
sử dụng bạo lực. Việc nô lệ cũng dung tới bạo lực, trừ khi chính
kẻ nô lệ tuân phục vì thói quen lâu đời. Ta dùng bạo lực
tước lột một khoản tiền nếu ta cứ khăng khăng lấy tiền cho bằng được
mà không đếm xỉa tới sự phẫn nộ của kẻ bị mất tiền. Ta
thấy sự phẫn nộ này trong hai trường hợp: ở đâu việc nạp tiền
không phải là điều thường xảy ra và ở nơi đâu điều thông
thường bị coi là bất chính dô một sự thay đổi quan điểm. Ngày
xưa người đàn ông có toàn quyền kiểm soát tài sản của vợ y nhưng
phong trào đòi quyền sống phụ nữ đã gây nên phản kháng chống lại tập
tục này và pháp luật đã bị thay đổi. Ngày xưa không chủ nhân nào
trả bồi khoản tai nạn nghề nghiệp cho công nhân; trong việc này tình
cảm nay cũng đã thay đổi, đưa tới việc tu chính các luật lao động. Ta
có thể kể vô số thí dụ thuộc loại này.
Một công
nhân đảng viên xã hội có thể cho rằng lợi tức của
hắn ít hơn lợi tức của chủ nhân là một điều bất công; nếu
vậy thì chính bạo lực đã bắt hắn ta phải chấp nhận. Hệ thống kinh
tế bất bình đẳng xưa có tích cách cổ truyền, và
tự nó không tạo nên sự phẫn nộ nào chỉ trừ những
kẻ đang nổi loạn chống lại truyền thống. Vì vậy các ý kiến của phe xã
hội chủ nghĩa càng gia tăng chừng nào càng khiến cho quyền lực của tư bản nhuộm
tính chất bạo lực chừng đó; một trường hợp tương tự là tương quan của những kẻ
rối đạo và quyền lực của Giáo hội Thiên chúa. Như ta đã biết có một số nguy hại
gắn liền vào bạo lực; đối nghịch lại với quyền lực có sự đồng tình: kết quả là
mỗi một sự gia tăng ý kiến của tư tưởng xã hội có khuynh hướng làm cho quyền
lực của những nhà tư bản trở nên nguy hại hơn chỉ trừ điều bọn này huênh hoang,
dương oai diễu võ vì lo sợ. Ta giả dụ có một cộng đồng hoàn toàn tổ chức theo
khuôn mẫu Mác xít, trong đó tất cả các công nhân đều là đảng viên xã hội, và
những kẻ còn lại là những kẻ bảo vệ hệ thống tư bản nhiệt thành không kém, ta
sẽ thấy phe thắng bất kể là phe nào sẽ không còn lựa chọn nào khác hơn là phải
dùng bạo lực đối với những kẻ chống đối. Đây là một hoàn cảnh hết sức nghiêm
trọng mà Mác đã tiên đoán. Các môn đệ của ông đã cố gắng tập trung tuyên truyền
của họ vào việc tạo nên tình trạng nguy hiểm trên.
Phần lớn những
điều ghê gớm xảy ra trong lịch sử loài người đều có liên
hệ đến bạo lực - không phải là tội ác của chiến tranh
mà còn biết bao nhiêu tội ác khác, khủng khiếp không kém tuy ít “ngoạn
mục” hơn. Ta có thể kể ra đây chế độ nô lệ và việc
buôn bán nô lệ, việc khai thác xứ Congo, những kinh hoàng thời
kỹ nghệ phôi phai, sự đánh đập trẻ em, những hành hạ tinh
thần, hình luật khắc nghiệt, những nhà tù, trại khổ sai, kì thị tôn
giáo, hành hạ dân Do thái, những ham muốn quái quắt của các bạo chúa, và
số phận thê thảm nhục nhã của các kẻ đối lập chính
trị tại Đức và Nga hiện nay – đây là những
thí dụ của việc dùng bạo lực đối với những nạn nhân
vô phương tự vệ.
Nhiều hình
thức của quyền lực bất chính có căn cơ ở truyền thống đã trở nên
bạo lực vào một lúc nào đó. Trong nhiều thế kỷ các
bà vợ của các tín đồ Gia tô giáo vâng lời chồng
vì thánh Paul đã phán đó là bổn phận của họ; nhưng trước khi
có đông đảo phụ nữ chấp nhận thuyết của thánh Paul người đàn ông
đã phải chịu nhiều khó khăn như câu truyện Jason và Medea đã
chứng tỏ. Quyền lực dĩ nhiên phải có hoặc nơi chính quyền hoặc nơi
những tên phiêu lưu vô chính phủ hay chống lại các thể nhân. Tuy
nhiên bạo lực cần phải được giảm thiểu càng nhiều càng tốt nếu ta muốn
thấy nhân loại có một đời sống khác hơn là những chuỗi ngay khốn
khó buồn nản, xen lẫn những phút giây ghê gớm hãi hùng. Nếu ta muốn
thấy việc hành xử quyền lực không phải chỉ là để hành hạ cho
sướng tay, thì quyền lực phải được hạn chế bởi luật pháp
và tập tục, và chỉ được dùng sau khi suy nghĩ cẩn thận,
và cũng chỉ nên giao phó cho những người biết nghĩ tới
quyền lực của kẻ khác.
Tôi không cho
điều này dễ dàng đâu. Trước tiên ta phải bãi bỏ chiến tranh
vì bất cứ chiến tranh nào cũng là sử dụng bạo lực, dù giải thoát
nhân loại khỏi những áp bức tàn nhẫn làm ta muốn nổi loạn. Ta phải lưu tâm nâng
cao mức sống trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước Trung hoa,
Ấn độ tới một trình độ ít nhất là ngang với nước Mỹ trước cuộc
khủng hoảng kinh tế. Phải lập ra một định chế tương đương với các
tòa án La Mã, không phải cho các công dân mà thôi mà còn cho bất
cứ tầng lớp bị áp bức nào, chẳng hạn như các nhóm thiểu
số các tội phạm. Điều quan trọng hơn hết là phải tạo nên một công luận
biết phải trái.
Thật là
vô ích nếu ta đặt lòng tin vào đức hạnh của một cá nhân hay một nhóm
cá nhân nào đó. Nhà vua hiền triết đã từ lâu
bị coi như một huyễn mộng, nhưng nay người ta lại coi đảng – hiền -
triết là một khám phá hào hứng, một ngọn đuốc soi đường, mặc dù
rõ rang đây chỉ là điều láo khoét lừa bịp. Ta không thể nào
tìm được một giải pháp đích thực cho vấn đề quyền lực nơi một
chính phủ thiểu số vô trách nhiệm hay một chính phủ “nhảy dù”.
Trong một chương sau tôi sẽ bàn thêm về vấn đề này.
(còn tiếp)
Nguồn: Bertrand Russell. Quyền
lực. Nguyễn Vương Chấn vàĐàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại, 1972. Bản điện tử do
triethoc.edu.vn thực hiện.
[1] Wars of the Rose: tên gọi một loạt những trận nội chiến
khốc liệt ở Anh dưới các đời vua Henry VI, Edward IV và Richard III.
[2] Agrigentum: tên
một thành phố quan trọng Hy Lạp, tầm quan trọng bậc nhì sau
Syracuse.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét