Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

6 thg 12, 2011

Về quyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp


Hồ Xuân Kiên 
Dưới góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, hiến pháp thể hiện ba đặc trưng cơ bản. Một trong số đó là thể hiện quyền lực của công dân, hay nói cách khác là tuyên bố quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ ở đây, được hiểu là quyền lực của công dân. Còn hiến pháp, nó được coi như là một loại “khế ước xã hội”, tức là như một hợp đồng giữa một bên là nhân dân và một bên là những người được nhân dân ủy quyền trong việc tổ chức và sử dụng quyền của dân được tổ chức thành nhà nước.
Trong “khế ước xã hội” đó, quyền lợi của nhân dân bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu, lên trước quyền lực của nhà nước. Trước tiên là nó phải được đưa lên chương đầu tiên của Hiến pháp như một thông lệ chung.
Trong phạm vi bài này, sẽ bàn tới vị trí quyền của nhân dân trong hiến pháp được thể hiện như thế nào? Nhưng sẽ không phải là bàn về nội dung hiến pháp, mà là ở cái cách thể hiện, cách dùng ngôn từ, và cách tư duy trong hiến pháp. Và chính cái cách tư duy như hiện nay, không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của công dân mà còn khiến cho bản “hợp đồng hiến pháp” giữa nhà nước và nhân dân bị xâm phạm.
Như trên đã đề cập, hiến pháp như là một bản hợp đồng giữa nhân dân và những người được nhân dân ủy quyền, đại diện cho nhân dân trong việc sử dụng những quyền đó để tổ chức thành nhà nước. Trong vai trò là người được ủy quyền, thì nhà nước trước hết phải đưa quyền lợi của nhân dân lên trước quyền  lợi của nhà nước. Tuy vậy, trong vài trường hợp, khi cả nhân dân lẫn nhà nước đều thấy cần thiết phải đưa ra những nguyên tắc chung, mà ở đó đề ra những nguyên tắc để dựa vào đó nhân dân trao quyền cho nhà nước. Trong trường hợp như thế thì những nguyên tắc chung đó, sẽ được đưa vào một chương đầu tiên của hiến pháp. Và quyền công dân sẽ được quy định ở chương hai.
Nhưng trong hiến pháp 1992 của nước ta hiện hành thì quyền và nghĩa vụ của công dân lại được quy định ở chương năm. Điều này làm cho hiến pháp nước ta có sự khác biệt so với hầu hết các nước tiên tiến như Đức, Anh, Pháp, Mỹ… Thậm chí khác cả Trung Quốc, Cu-ba – những nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa như nước ta.
Trong lịch sử hiến pháp nước ta thì chỉ có hiến pháp 1946 là quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định ở chương hai, đến hiến pháp 1959 thì lại đưa xuống chương ba, và ở hiến pháp 1980 và 1992 thì là chương năm. Vậy vấn đề của cách trình bày như vậy là ở chỗ nào?
Thứ nhất, là cách trình bày như vậy là không tuân theo logic chung của kỹ thuật trình bày và thể hiện hiến pháp.
Thứ hai, việc quyền công dân được đưa lùi về phía sau của hiến pháp, dễ làm cho chúng ta đặt câu hỏi, phải chăng quyền lực của dân đang dần không còn quan trọng như trước nữa?
Không chỉ trong cách trình bày mà cả cách sử dụng ngôn từ của hiến pháp 1992 cũng mang nặng tính tư duy bao cấp và nếp nghĩ Nho giáo. Sở dĩ nói như vậy là vì những cụm từ như: “Nhà nước đảm bảo” ; “Nhà nước tạo điều kiện cho công dân” mang nhiều tính ban ơn của nhà nước cho công dân hơn là các hiểu nhà nước là một tổ chức được hình thành từ bản “hợp đồng hiến pháp” giữa nhân dân và nhà nước. Thậm chí cụm từ “nhà nước tạo điều kiện” lại được sử dụng nhiều trong chính chương năm, chương quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Hậu quả của việc này là làm cho trách nhiệm của nhà nước thiếu rõ ràng. Vì nhà nước chỉ “tạo điều kiện” khi nào và chừng nào mà nhà nước thấy cần và thuận lợi cho bản thân nhà nước mà thôi. Và như vậy có nghĩa là nhà nước sẽ không có nghĩa vụ đảm bảo cho các điều kiện ấy tồn tại. Trong một trường hợp nào đó, quyền lợi của nhân dân bị xâm phạm, thì dân sẽ “kiện ai”. Như thế thì đâu còn là quyền lực của nhân dân nữa, đâu còn là hợp đồng giữa nhân dân và nhà nước nữa.
Thiết nghĩ, chúng ta nên đưa chương quyền và nghĩa vụ của công dân lên chương hai. Và thay vì sử dụng ngôn từ theo dạng thức chủ động như “nhà nước tạo điều kiện”; “nhà nước đảm bảo” thì nên chuyển sang dạng thức bị động, kiểu như “công dân được hưởng các điều kiện”… Và quan trọng hơn, ẩn sau công thức đó, là quyền và nghĩa vụ của nàh nước.
Nếu như các điều kiện sống cần thiết của người dân không được tạo ra trong thực tế thì nhà nước đã vi phạm hiến pháp.  Như vậy có thể dẫn đến sự phá bỏ hoặc thay đổi bản “hợp đồng” giữa nhân dân và những người được nhân dân ủy quyền – tức là nhà nước. 
H.X.K. 

2 nhận xét:

  1. Bài này có chất lượng đó. Thật sự về lĩnh vực hiến pháp tớ ít quan tâm, chủ yếu quan tâm về lĩnh vực hành chính hơn. Có lẽ, lĩnh vực này bạn rành hơn tớ!

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. người đi 1 nữa hồn tôi mất
      một nữa hồn tôi đứng chửi thề

      Xóa


Tổng số lượt xem trang

free counters