Một cộng đồng
có quyền lực nhiều hay ít không chỉ tùy thuộc ở dân số, các
nguồn tài nguyên, khả năng kĩ thuật mà còn ở những tín niệm
nữa. Một tín niệm nhằm tạo lòng cuồng tín được mọi phần tử tuân theo
thường gia tăng quyền lực cộng đồng rất nhiều; tuy nhiên cũng có khi
nó làm giảm bớt quyền lực. Vì bây giờ con người dễ tin vào
các tín niệm cuồng nhiệt nhiều hơn khi trước nên việc xét ảnh hưởng của
chúng trên quyền lực rất hệ trọng. Một trong những lý lẽ mà người
ta thường viện dẫn để bài bác dân chủ là một nước gồm những
tên điên đánh giặc dễ thành công hơn một nước còn nhiều người
tỉnh trí. Chúng ta hãy cùng nhau ngược dòng lịch sử. Trước tiên chúng ta phải
nhận rằng người ta biết rõ những trường hợp lòng cuồng tín đưa tới thành công
hơn những trường hợp đưa tới thất bại, tự nhiên là vậy. Thí dụ điển hình của
thứ quyền lực nhờ cuồng tín là sự bành trướng của Đạo Hồi. Mohammed là kẻ đã
chẳng mang lại trí thức hay của cải mới nào cho người Á-rập, vậy mà trong vòng
một vài năm trước khi ông chết, người Á-rập đã thiết lập một đế quốc lớn sau
khi đánh bại những nước láng giềng rất hùng mạnh. Chắc chắn tôn giáo Mohammed
khai sáng ra là một yếu tố chính yếu mang lại thành công cho nước ông. Ngay vào
lúc gần chết ông còn tuyên chiến với đế quốc Byzantine. Nhưng những người Hồi
giáo đã nản chí. Họ viện cớ thiếu tiền, thiếu ngựa, thiếu lương thực, mùa gặt
đã gần kề và mùa hè oi bức quá sức. Khi thấy Mohammed nổi giận phán: “Hỏa ngục
còn nóng hơn thế nữa” (Gibbon, Ch L). Chính lòng cuồng tín (khi Mohammed còn sống
và một vài năm sau khi ông chết) đã thống nhất các dân tộc Á-rập, khiến họ
chiến đấu kiên cường và giúp họ can đảm vì ông hứa kẻ nào gục ngã khi chiến đấu
chống lại những kẻ nghịch lại, Thượng đế sẽ đưa lên thiên đàng ngay lập tức.
Dù cho lòng cuồng
tín có giúp cho người Á-rập lúc đầu, chính những lý do khác mới giúp
họ đạt được nhiều chiến thắng sau này. Vào lúc Hồi giáo bắt đầu bành
trướng, các đế quốc Byzantine và Ba tư bắt đầu suy yếu vì những trận đánh dai
dẳng; Và các đạo quân La Mã luôn luôn gặp khó khăn khi đương đầu với các kỵ
binh Á-rập. Những kỵ mã Á-rập là những chiến sĩ nhanh nhẹn, giỏi chịu cực hơn
các sắc dân lân cận vốn quen sống xa hoa. Chính trong hoàn cảnh này mà người
Hồi đã chiến thắng.
Nhưng chẳng
bao lâu lòng cuồng tín bị gạt khỏi chính quyền. Con rể Mahammed đã ráng
duy trì lòng nhiệt thành nơi các tín hữu, nhưng đã bị bại trong cuộc
chiến và sau cùng bị ám sát chết. Kẻ kế vị ông trong vương triều
là gia đình Ommiyah là những kẻ kình nghịch với Mohammed vì chỉ chấp nhận Hồi
giáo vì lý do chính trị. Gibbon viết : “Những kẻ bách hại Mahammed đã đoạt
quyền của các con cái Nhà Tiên Tri này, và những kẻ chuyên sùng bái ngẫu tượng
đã trở nên những kẻ cầm đầu tôn giáo và đế quốc ông “Abusophian, người chủ tế
dòng Moawiyah, đã chống đối dữ dội và ương ngạnh đối với niềm tin Hồi giáo. Ông
ta miễn cưỡng trở lại đạo rất trễ: Niềm tin của ông do nhu cầu chính trị thúc
đẩy; sau đó ông ta phụng vụ, ông ta chiến đấu, có lẽ ông ta tin tưởng nữa; và
các tội lỗi của thời kì không biết đến đạo đã được giải khai nhờ những tài năng
của họ Ommiyah” (Gibbon, sách đã dẫn).
Từ đây
trở đi, trong một thời gian rất dài, quốc vương quốc Hồi giáo nổi tiếng
là có tư tưởng phóng khoáng. Ông không hề tỏ ra cố chấp trong
khi những người Thiên chúa giáo vẫn còn giữ lòng cuồng tín. Khi thắng đế quốc
Byzantine, người Hồi giáo đã tỏ ra khoan dung đối vơi những người Thiên chúa
giáo bại trận và chính lòng khoan dung này (đối nghịch với lòng hăng say trả
thù của giáo hội Công giáo) đã khiến cho đế quốc của họ trở nên bền vững.
Một trường hợp
nữa chứng tỏ thành công đối với bên ngoài của lòng cuồng tín là thắng
lợi của các tín đồ độc lập thời Crommwell. Nhưng thực ra ta không biết thành
công của Cromwell
[1] liên hệ tới lòng cuồng tín đến mức nào. Trong các
cuộc tranh chấp với Nhà vua, Quốc hội thắng phần lớn vì nắm được quần chúng
Luân Đôn và những quận miền đông; trong những giới hạn này, nhân lực và tài lực
của họ hơn hẳn nhà vua. Những tín đồ Presbyterians vào thời kì đó dần dần bị
loại ngoài vì họ không biết lòng mong mỏi chiến thắng (đó cũng
là số phận của những kẻ chủ trương ôn hòa trong cuộc cách
mạng). Chính Cromwell khi đã nắm được quyền bính, trở nên một chính
trị gia thực tế, và ráng tránh những hành động thái quá gây nên
những khó khăn và căng thẳng, nhưng ông không thể không lưu tâm
tới lòng cuồng nhiệt của những kẻ theo mình. Sau cùng lòng cuồng tín
này đã làm suy sụp đổ guồng máy đảng của ông.
Lịch
sử cuộc Cách mạng Pháp cho thấy nhiều điểm tương đồng với Khối Thịnh
Vượng Chung ở Anh: cuồng tín, thắng lợi, chuyên chế, rồi sụp đổ
và phản động. Thành công của những kẻ cuồng tín không kéo dài lâu được.
Lòng cuồng
tín, thường mang lại nhiều tai họa hơn là hạnh phúc,
dù chỉ là những thành công tạm bợ. Chính chủ nghĩa cuồng
tín đã là căn nguyên của sự tàn phá Jerusalem
vào thời Titus và Constantine
dị biệt nhỏ nhặt giữa hai giáo hội Đông Tây. Nó cũng đã đưa đến sự tàn tạ của
Tây Ban Nha, trước hết do việc trục xuất người Do Thái và người Moors, kế đến
việc tạo loạn ở Hà Lan và những cuộc chiến tranh tôn giáo khốc hại. Mặt khác ta
cũng nhận thấy rằng những dân tộc gặt hái được nhiều thành công trong việc mưu
cầu hạnh phúc cho dân chúng là những dân tộc ít thích bách hại những kẻ có ý
kiến nghịch với mình.
Tuy vậy ngày
nay vẫn còn nhiều kẻ tin rằng sự đồng nhất tư tưởng
là thiết yếu cho sức mạnh quốc gia. Tình trạng ở các nước Đức, Nga,
Ý, Nhật vào những năm 30 cho ta một thí dụ cụ thể. Ngay những
kẻ chống phát xít ở Anh và ở Pháp, cũng có nhiều
kẻ muốn thừa nhận tự do tư tưởng là nguồn gốc của sự thua
kém quân sự. Chúng ta hãy xét vấn đề này một cách lí thuyết và rạch
ròi hơn.
Tôi không
muốn đặt câu hỏi quá rộng sau đây: Ta phải đối xử với
tự do tư tưởng như thế nào? Khuyến khích nó hay ít nhất
phải có một thái độ khoan dung chăng? Nhưng ít nhất tôi muốn đặt câu
hỏi hẹp hơn: Đến mức độ nào thì một tín niệm đồng nhất
(tự nguyện hay bắt buộc) là nguồn gốc của quyền lực? Mặt khác tới
mức độ nào thì tự do tư tưởng là nguồn gốc của quyền lực?
Ta hãy duyệt
xét những thí dụ lịch sử sau:
Năm 1905, khi
một đội quân viễn chinh Anh xâm lăng Tây Tạng, người Tây Tạng lúc đầu
đã dũng cảm tiến lên vì các vị Lạt Ma đã cho họ những đạo bùa. Nhưng
khi có người lăn ra chết, các vị Lạt Ma nhận thấy đầu đạn bằng
kền và giải thích rằng bùa của họ cho chỉ khống chế được
chì. Sau đó quân đội Tây Tạng ít hung hãn hơn. Khi Bele Kem và Kurt
Eisner làm cuộc cách mạng cộng sản họ chắc mẩn là Duy vật biện chứng
Pháp đang chiến đấu cho họ. Tôi không còn nhớ những Vị “Lạt
Ma” trong chính trị cục họ đã giải thích sự thất bại của những
tay làm chính trị nông nổi này ra sao. Duy có điều chắc chắc
là trong hai trường hợp kể trên, tín niệm đồng nhất đã không
mang lại chiến thắng.
Ta cần dung
hòa hai sự kiện trên mới mong tìm kiếm được sự thật trong
vấn đề gai góc này. Sự kiện hiển nhiên thứ nhất là những
người đồng ý với nhau trong các tin tưởng của họ cộng tác với nhau dễ hơn
những người không đồng ý. Sự kiện hiển nhiên thứ hai là những
người có tin tưởng đúng đắn (phù hợp với sự thật) dễ thành
công hơn những người tin tưởng tào lao. Chúng ta hãy xét từng sự kiện hiển
nhiên một.
Việc đồng
ý với nhau về một mục tiêu hay ý kiến nào hỗ trợ cho
sự cộng tác thoải mái dễ dàng là chuyện rõ ràng. Trong cuộc
nội chiến Tây Ban Nha, những kẻ vô chính phủ, các đảng viên cộng
sản và đảng viên quốc gia vùng Basque cộng tác với nhau rất khó khăn
dẫu rằng tất cả trong đều mong muốn đánh bại Franco. Chúng ta cũng
thấy những người Carlit và Phát xít tân thời hợp tác với nhau một cách
miễn cưỡng. Muốn thành công người ta phải thỏa thuận với nhau về những cứu cánh
tức thời. Khi người ta thỏa thuận được với nhau như vậy thì dù có ý kiến khác
biệt vẫn vô hại. Sir William Napier, sử gia chuyên về thời kỳ xảy ra Trận đánh
bán đảo rất phục Napoléon và ghét Wellington;
cuốn sử của ông cho thấy ông luyến tiếc cho sự thất trận của Napoléon. Nhưng
tình cảm giai cấp và những bổn phận quân sự đã khiến ông tận tình chống lại
Pháp như thể một đảng viên bảo thủ cao cấp. Cho nên ta có thể tin được là những
đảng viên bảo thủ Anh sẽ chiến đấu chống Hitler mãnh liệt như thể họ không hề
ngưỡng mộ nhà độc tài này bao giờ vậy.
Sự đồng
nhất cần thiết giúp cho một nước, một tôn giáo hay một đảng phái
có quyền lực là sự đồng nhất trong thực tế vốn
tùy thuộc vào cảm tình và tập quán. Những xác tín trí thức không
cần thiết lắm ở những nơi nào người ta nhất trí với nhau rồi.
Tình trạng này xảy ra ở Anh quốc ngày nay nhưng trước 1745 tình trạng này không
hề xảy ra. Ở Pháp năm 1792 hay ở Nga trong trận Thế Chiến
Thứ Nhất cũng không có tình trạng này. Ở Tây Ban Nha cũng vậy.
Một chính phủ thấy rằng tự do tư tưởng là điều
có thể chấp nhận được nếu họ tin ở sự trung thành của
dân chúng: khi không còn tin dân chúng được thì mọi chuyện khó khăn
hơn nhiều. Ta thấy rõ là tự do tuyên truyền không
thể có được trong một quốc gia có nội chiến. Vì vậy người
ta có lý khi đòi sự thống nhất trong những hoàn cảnh nguy hiểm.
Chúng ta hãy
xét sự kiện hiển nhiên thứ hai: có những tin tưởng phù hợp
với thực tế rất lợi. Nếu nói đến những lợi lộc trực tiếp
thì điều này chỉ đúng với một loại tin tưởng: trước tiên
là những vấn đề kỹ thuật, chẳng hạn như những vấn đề
liên quan đến đặc tính của chất nổ và hơi độc: thứ đến
là những vấn đề liên quan đến sức mạnh tương đối của những
lực đối nghịch. Nhưng ngay trong cả những vấn đề này ta
chỉ thấy những người phải quyết định chính sách, hoặc quyết định
những cuộc hành quân mới thật sự cần có những quan niệm đúng đắn. Đối
với dân chúng thái độ tốt nhất cho chính quyền là dân chúng tin
chắc ở thắng lợi cuối cùng và sẵn lòng chịu đựng những cuộc
không tập ác liệt của địch quân. Như vậy chỉ có chính phủ,
các nhà chỉ huy quân sự và các chuyên viên kỹ thuật
là cần biết sự thực, còn những kẻ khác ta chỉ cần họ tin
tưởng cách mù quáng và cắm đầu vâng lời là tốt hơn cả.
Quan điểm này
có phần nào đúng nếu ta tính được chuyện đời như tính nước cờ,
và nếu như các chính trị gia cũng như các tướng lãnh cũng
giỏi như những kỳ vương. Người ta cũng nhận thấy là một cuộc
chiến thành công có lợi hay không thì còn phải duyệt lại, nhưng
có điều chắc là một cuộc chiến thất bại sẽ mang lại nhiều tai
hại. Cho nên nếu có những siêu nhân cầm cân nẩy mực mọi chuyện trên đời,
nếu có thể tiên đoán ai là kẻ thắng trận, chiến tranh
ắt không thể xảy ra. Nhưng trong thực tế vẫn có chiến tranh
và trong mỗi cuộc chiến phải có một bên (nếu không
là cả hai bên) đã tính sai vận mệnh của họ. Có nhiều nguyên do
giải thích cho sự kiện này: lòng kiêu hãnh, tính ham danh, sự ngu si và
lòng hăng hái truyền nhiễm bởi kẻ khác. Một khi ta đã làm cho dân chúng
mù quáng tin tưởng ở những điều mà chúng ta vẽ vời ra
thì chính lòng tin và hiếu chiến của họ cũng
có thể lan đến cấp lãnh đạo vốn chẳng thích thú những tin tưởng
bất lợi mà họ biết là bị dấu nhẹm, và họ cũng
bị luôn cuốn bởi những tin tức phấn khởi do báo chí đăng tải
và đài phát thanh loan truyền. Về khía cạnh này chính quyền cũng dễ bị ảnh
hưởng chẳng kém gì nhân dân.
Khi chiến
tranh bùng nổ, chính sách che giấu có thể đưa đến những kết
quả trái nghịch hẳn với ý những kẻ chủ trương.
Ảo tưởng càng lớn nỗi thất vọng càng cao khi chạm trán với thực tế. Cách
mạng hay một cuộc sụp đổ bất thình lình dễ xảy ra hơn trong những
hoàn cảnh trên hơn là khi ta thành thực công bố cho dân chúng biết
các biến cố đau thương.
Kẻ dễ dàng tuân phục khó mà có thông minh. Trong một
cộng đồng mà ta bắt buộc phải tin theo một học thuyết phi lý thấy
rõ thì kẻ thông minh nhất cũng phải trở thành những kẻ ngu
đần hay ít ra cũng làm bộ ngu ngơ. Trí thông minh bị hạ thấp như vậy sớm
muộn rồi cũng ảnh hưởng tai hại đến tiến bộ kỹ thuật. Đảng Quốc xã Đức đã lưu
đầy những công dân lỗi lạc nhất của họ và chắc chắn điều này làm suy giảm kỹ
thuật quân sự của họ. Kỹ thuật không thể tiến bộ mà không có khoa học và khoa
học không thể phát triển nếu không có tự do tư tưởng. Kết quả là sự đồng loạt
về học thuyết ngay cả trong những vấn đề không liên quan gì đến chiến tranh,
kết cục cũng làm suy giảm tiềm năng quân sự trong thời buổi khoa học này.
Bây giờ chúng
ta thử tổng hợp hai sự kiện hiển nhiên trên. Sự liên kết giữa
các giai tầng xã hội đòi hỏi phải có một tín niệm hay một
lề luật xử thế mà cả xã hội đồng thuận, hoặc
một thứ tình cảm nào đó chiếm ưu thắng trong lòng dân chúng
(như tình cảm quốc gia chẳng hạn), hoặc cả ba thứ kể trên.
Nếu không có những điều kể trên, một cộng đồng sẽ phân hóa
và rơi vào ách ngoại bang. Về phương diện lịch sử ta thấy lòng
trung thành với lãnh tụ đã kém hiệu quả vì sự truyền tập
không còn và vì quyền tự do tư tưởng là đe dọa nặng
nề cho lòng sùng tín. Ngày nay chỉ có tình tự dân tộc còn
là một yếu tố mạnh mẽ, hơn cả thời xưa nữa.
Nhưng muốn duy
trì tự ái quốc gia phải giảm thiểu tự do tới chừng nào? Ở Nga
hễ ai quan niệm khác với những tin tưởng chính quyền
có lẽ bị gán cho tội thiếu lòng yêu nước. Ở Đức và
Ý sức mạnh của chính phủ tùy thuộc vào chủ nghĩa quốc gia,
và kẻ nào chống đói sẽ bị kết án theo Nga (có nghĩa
là kẻ phản quốc), ở Pháp người ta viện dẫn lí do cấm tự do
làm ngăn ngăn chặn những kẻ muốn làm phản theo Đức. Khó khăn của
những quốc gia này là đấu tranh giai cấp, tranh chấp quốc gia
và nó khiến cho những tay tư bản, những đảng viên xã hội
và những cộng sản phải có lý do khác hơn là quyền lợi quốc
gia. Đối với mọi chính phủ đây là một vấn đề khó khăn. Giải
pháp tốt nhất của họ là dùng một khẩu hiệu quốc tế chẳng hạn
như dân chủ, cộng sản hay an ninh chung.
Tóm lại ta
thấy cần có một tín niệm hay một tình cảm nào đó mới tạo nên sự liên
kết xã hội được, và muốn có hữu hiệu thực
sự thì tín niệm hay tình cảm phải được chia sẽ bởi đa
số dân chúng, kẻ cả những chuyên viên kỹ thuật. Nơi nào
không có điều kiện thì chính phủ tạo ra liên kết xã hội bằng
kiểm duyệt và bách hại; nhưng sự kiểm duyệt và bách hại khiến
cho các người sống trên mây và quên hay không biết những sự thực quan
trọng. Và vì những kẻ nắm quyền hành làm sa đọa, họ thường
chế tự do quá mức cần thiết.
Suốt những
trang trên ta chỉ mới xét những hậu quả trực tiếp của một tín niệm.
Những hậu quả về lâu dài khác xa. Một tín niệm được dùng làm
nguồn gốc quyền lực tạo nên những cố gắng lớn lao trong một thời gian,
nhưng nếu những cố gắng này không đưa đến những thành công thỏa đáng,
sẽ dẫn tới mệt mỏi, và mệt mỏi đưa đến hoài nghi. Khi đó càng tuyên
truyền nhiều để tạo hứng khởi càng tạo nên những hậu quả trái nghịch
và sau cùng ai cũng chỉ cầu an. Sau một thời gian nghỉ ngơi, quần
chúng có thể bị kích thích trở lại, nhưng cần phải có một
kích thích tố mới vì những kích thích cũ đã trở thành
vô hiệu. Cho nên chúng ta lạm dụng tín niệm ta
chỉ có thể gây được hậu quả tạm thời. Vào
thế kỉ 13, tâm trí con người bị ám ảnh bởi 3 vĩ nhân:
Giáo hoàng, Hoàng đế La Mã và Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ không còn
nữa, còn quyền lực của Giáo hoàng chỉ là vang bóng một thời. Vào
thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 Âu châu là nơi tranh
chấp giữa Công giáo và Tin lành. Người ta áp dụng đủ mọi phương
kế tuyên truyền, xách động. Nhưng không bên nào đạt chiến thắng sau
cùng; thắng lợi đã rơi vào tay những kẻ không coi trọng những tranh chấp
tôn giáo. Swift đã châm biếm cuộc tranh chấp này khi mô tả các cuộc
chiến tranh của Big-Endians (thằng rợ lớn và thằng rợ nhỏ). Nếu
cộng sản đánh nhau với Phát xít, thắng lợi kết cục sẽ rơi vào tay
những kẻ nhún vai mà nói giống như Candide: “Cela est bien dit, mais
il faut cultiver notre jardin”. Giới hạn của sự yêu thích quyền lực
là sự chán nản, mệt mỏi và đưa đến sự tìm quên trong tiện nghi. Xét cho cùng
con người bao giờ cũng là con người với những thói hư tật xấu cố hữu của nó
vậy.
Nguồn: Bertrand
Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn và Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại,
1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.
[1] Cromwell : người đã lập nền cộng hòa ở Anh quốc, sinh tại
Huntingdon (1599-1658) ông đã đánh bại quân đội hoàng gia ở Nesby (1645) đưa
Charles I lên đoạn đầu đài (1649), sau này ông biến thành một nhà độc tài.
Nguồn: Triethoc.edu.vn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét