Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

22 thg 6, 2010

Bài 4: Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á: Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật hình thành nên các thị trường năng lư

Bài 4
Trung Quốc và An ninh Năng lượng dài hạn ở châu Á:
Phân tích về chính trị, kinh tế và các yếu tố kỹ thuật
hình thành nên các thị trường năng lượng Châu Á
China and Long-range Asia Energy Security: An Analysis of the Political, Economic and Technological Factors Shaping Asian Energy Markets
Dr. Evan A. Feigenbaum
Mixing Rivalry With Cooperation: The New Economic Geopolitics
TRỘN LẪN GANH ĐUA VÀ HỢP TÁC: CÁI MỚI VỀ KINH TẾ ĐỊA CHÍNH TRỊ
Lời giới thiệu
Dưới đây là một bài phân tích khác với nhiều quan điểm cho rằng Trung Quốc đang xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh để trấn áp biển đông và tuyến đường chuyên chở năng lượng ở khu vực Châu Á – Thái bình Dương. Với cách nhìn "hòa hoãn" và phân tích lạc quan về tình hình hiện nay, rằng Trung Quốc không thể và không đủ sức ngăn cản hoạt động bá quyền của Hoa Kỳ ở biển Đông trong vài thập niên tới…cho nên việc giữ một quan hệ nhất định với Trung Quốc là cần thiết, mặc dù không phủ nhận được tính "hiếu chiến" của lãnh đạo Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền của họ trên biển Đông cũng như trên đất liền. Theo tác giả, từ tư tưởng hiếu chiến…đến hành động quân sự cụ thể là một khoảng cách dài, hầu như không thể xảy ra ngày nào Mỹ còn đủ sức duy trì lực lượng không chế tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương để giữ quyền kiểm soát…Và điều đáng tiếc là nếu theo lập luận nầy thì khả năng Trung Quốc đánh chiếm các đảo còn lại ở Trường Sa là rất lớn vì theo tác giả đó chỉ là vấn đề cục bộ không ảnh hưởng đến chiến lược của Hoa Kỳ ở khu vực Châu Á-TBD ! Xin mời bạn đọc theo dõi.
Nhóm chuyển ngữ Bauvinal.info.free.fr
Harvard University
Hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã ghi được mức tăng trưởng kinh tế gần như chưa từng có trước đây. Gây ra sự tăng lên về lượng cả hai mặt song song, cả lượng ra lẫn lượng vào mức tiêu thụ năng lượng trong nước.[1] Kết quả của việc gia tăng nầy, việc phân tích vấn đề năng lượng của Trung Quốc liên hệ mật thiết đến một số điểm quan trọng cần bàn bạc về tình hình quân đội Trung Quốc và các ý đồ chiến lược lâu dài của họ:
-Trung Quốc làm sao đảm bảo được việc cung cấp các nguồn năng lượng sống còn nhất cho mình, đặc biệt là các loại lệ thuộc vào nguồn hàng lưu thông tự do qua các tuyến đường biển quốc tế ? [2]
- Liệu Trung Quốc có đủ năng lực hải quân để đảm bảo giao thông cho các tuyến biển (SLOCs) không ?
- Năng lực cho việc đó có phải là trung tâm của kế hoạch phát triển hải quân trong tương lai không ?
- Khả năng tên lửa của Trung Quốc -đã trình diễn gây ấn tượng mạnh mẽ khi tập trận ở eo biển Đài Loan mùa xuân 1996- có thể được dùng để hăm dọa hoặc gây hại đến việc chuyên chở trên biển quốc tế, kể cả vận tải dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên ?
Cuộc tranh luận đã nảy sinh, chủ yếu chung quanh sự chuyển hướng quan trọng trong quan hệ giữa chiến lược phát triển kinh tế và các mục tiêu chiến lược đã hiện rõ ra của Trung Quốc. Từ thập kỷ 50 đến 70, một tích lũy thô về an ninh quốc gia ngự trị hầu hết lịch trình chính sách của Trung Quốc, và sự bấp bênh đối ngoại là một trong vài chủ đề chính trị tồn tại chế ngự suốt ba thập kỷ trước khi chương trình đổi mới của Đặng Tiểu Bình được công bố vào năm 1978. Mức độ cao về bất ổn đối ngoại chẳng những đặt quân đội Trung Quốc luôn sẵn sàng và chọn cấu trúc mạnh mẽ trong kỷ nguyên Mao (1949-76). Những cuộc khủng hoảng an ninh quốc gia xảy ra thường xuyên làm lộ ra lần này đến lần khác các mặt tương đối yếu kém của Trung Quốc và cũng làm lệch hướng một đại bộ phận trong chiến lược phát triển tổng thể kinh tế của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) vào thời kỳ đó.[3] Thế là nền kỹ thuật cao và kế hoạch công nghiệp của Trung Quốc bị lệch hướng nặng nề sang chương trình vũ khí chiến lược đại quy mô trên tầm quốc gia, trong lúc các nguồn lực quân đội có sẵn đều được đưa vào những mục tiêu truyền thống về an ninh quốc gia như: phòng vệ biên giới; đẩy mạnh những yêu sách về vấn đề lãnh thổ; và sự bảo vệ nội địa khỏi ngoại kích.
Ngày nay, các học giả và các nhà hoạch định chiến lược đồng chấp nhận là tăng trưởng kinh tế là trọng tâm của lịch trình chính sách quốc gia của Trung Quốc. Kết quả của sự chuyển dịch này là hoạch định công nghiệp và kỹ thuật của Trung Quốc đã chuyển dịch ra khỏi các mục tiêu nhằm vào vũ khí ở thập niên 50 – 70 mà hướng đến một nỗ lực thông minh hơn nhiều, bao gồm phi quân sự hóa và chuyển dịch đầu tư từ công nghiệp nặng sang công nghiệp nhẹ và kỹ thuật cao.[4]
Không có gì đáng ngạc nhiên khi các chuyển dịch đó đi kèm với một sự thay đổi tế nhị là Trung Quốc có ý định khai triển tiềm năng về quân sự, như nhiều nhà phân tích tiên đoán. Với các vùng biên giới vững chắc và nhiều yêu sách về lãnh thổ còn dở dang giờ đây còn chồng chéo thêm về kinh tế và vấn đề tài nguyên, cuộc tranh luận về chính sách quốc phòng của Trung Quốc gia tăng tập trung vào hai đề tài: (1) những quan tâm về cân bằng sức mạnh lâu dài trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là đối mặt với khả năng vai trò của Mỹ trong tương lai; và (2) khả năng Trung Quốc sẽ khai triển lực lượng quân sự để đảm bảo các tài nguyên cần thiết cho tăng trưởng kinh tế lâu dài.[5]
Hiển nhiên là cả hai hướng tranh luận này đan xen chặt vào nhau, nhưng ở hướng thứ nhì thì đặc biệt tế nhị và đáng quan tâm, một phần vì sự cân nhắc giữa tài nguyên và sự cân bằng sức mạnh chồng chéo nhau rất sát sao. Để được cả sự tự cân đối năng lượng và làm một thế lực thống trị trong nền kinh tế vĩ mô khu vực, Trung Quốc phải có khả năng đảm bảo tuyến đường thủy vãng lai đến nơi cung cấp tài nguyên và các tuyến đường thương mại. Do đó việc hiện đại hóa hải quân, đặc biệt ở đây, đã tiến hành đặc biệt gây tiếng vang lớn vì nhu cầu năng lượng đang tăng lên ở Trung Quốc.
Tranh luận chủ yếu về vấn đề làm sao các yêu sách về tài nguyên và lãnh thổ chồng chéo nhau đã được tuyên bố chi tiết, thí dụ như, trong cuộc tranh luận về các mục tiêu của Trung Quốc tại vùng biển Đông là nơi mà mối tương quan lực lượng là một vấn đề lớn trong khi Trung Quốc đang lấn dần từng bước ở vùng quần đảo Trường Sa (Spratly), nổi lên những thắc mắc rằng liệu sự lệ thuộc tài nguyên là rào cản phải đặt trong bài toán chiến lược của Trung Quốc như thế nào. Hầu hết các tuyến đường biển chủ yếu thông thương vận chuyển năng lượng miền Đông Á nằm ở vùng biển này.
Vậy thì, xin phép có một câu hỏi mới, rất quan trọng về các mục tiêu chiến lược và tình thế sức mạnh của Trung Quốc: Nói thẳng ra nếu quân đội Trung Quốc phục vụ cho các mục tiêu an ninh "truyền thống", như phòng vệ biên giới, khi những điều này là tối thượng trong kế hoạch hành động của người Trung Quốc từ những năm 50 -70, thì bây giờ chúng ta có thể nào không loại trừ việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc sử dụng một khả năng hiện thực sức mạnh tương lai để phục vụ mục tiêu thống trị trong hiện tại – ấy là an ninh kinh tế, an ninh tài nguyên, và sự bành trướng thoải mái về chiến lược và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trong vùng châu Á-Thái Bình Dương ?
Bài tiểu luận này đưa ra vài ý tưởng ban đầu về vấn đề trên qua 4 lý lẽ chính.
Thứ nhất, mặc dù Trung Quốc có lịch sử luôn là thái độ bất hòa giữa các nước quân phiệt dẫn đến thiên hướng dựa vào vũ lực, mối liên hệ giữa việc sử dụng vũ lực và tài nguyên và kinh tế của Trung Quốc nếu có kết nối thì cũng mong manh xét về mặt giá trị lịch sử lẫn kinh nghiệm.
Thứ nhì, đây là mặt nổi cộm trong trường hợp vùng biển Nam Trung Hoa, nhiều nhà phân tích khi nghiên cứu động thái chiến lược của người Trung Quốc về vùng biển này đã thổi phồng lên quá mức có thể có được trong thực tiễn. Thực vậy, chấp nhận rằng Trung Quốc "hung hăng" trong khu vực có thể do bị tác động nhiều bởi một định nghĩa cứng nhắc về chủ quyền hơn là do suy xét đến tài nguyên và kinh tế, hoặc ngay cả do suy xét đến sự cân bằng sức mạnh. Vùng biển có thể có giá trị chiến lược nhưng bản thân các hòn đảo thì chẳng có gì. Và không chỉ thế, sự thống trị của hải quân Mỹ có khả năng sẽ không bị ai khiêu khích trong nhiều thập kỷ tới nhưng, như tôi sẽ cố nêu rõ ở phần dưới, rất nhiều mục tiêu của Trung Quốc trong khu vực chắc sẽ đạt được đơn giản bằng cách cho "chồm lên" vượt qua hiện trạng thống trị của Mỹ. Ít nhất trên mặt trận chủ quyền, điều phát hiện này càng đẩy lùi kỳ vọng về một sự ổn định trong vùng biển Đông như vốn có, vì nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) hầu như chắc chắn tìm cách thúc ép thỏa mãn yêu sách của họ. Nhưng điều này gợi ý ra là không nên xem trường hợp biển Đông như là một dấu hiệu chỉ ra hành vi chiến lược mở rộng lãnh thổ củaTrung Quốc hoặc cho thấy vị thế của Trung Quốc trong các giải pháp hợp tác nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng. Thực vậy, tiểu luận này đứng trên quan điểm tích cực cho rằng viễn cảnh về những giải pháp hợp tác trong thực tế hoàn toàn xác thực hơn.
Thứ ba, từ hiện trạng ngày nay người Mỹ che chở các tuyến đường biển ngoài khơi phục vụ cốt lõi các lợi ích về chiến lược của Trung Quốc, giới vạch ra chính sách cho Trung Quốc dường như rất muốn làm một cú lồng lên vượt qua quyền bá chủ của người Mỹ hơn là khiêu khích hiện trạng trên. Việc tranh cải cho sự ổn định này vượt khỏi giới hạn trung bình.
Thứ tư, việc hiện đại hóa kỹ thuật quốc phòng của Trung Quốc phải mất 30 đến 50 năm nhằm cung cấp cho Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) một khả năng bao quát thách thức sự thống trị của Mỹ, đặc biệt trên vùng biển khơi. Khi liên kết với mối quan tâm thực tế về quyền lợi về tài nguyên của Trung Quốc , ít ra cũng làm được việc một cách hiệu quả và ít tốn kém nhất là lách qua mặt quyền bá chủ của Mỹ, hơn là qua kiểu khiêu khích đối đầu trực diện với quyền bá chủ đó, điều này gợi ra một ý là gánh nặng ổn định khu vực thực ra nằm trên vai Mỹ chứ không phải Trung Quốc. Đối với mọi lời bàn về "sự hung hăng" của Trung Quốc trong việc đồn trú tại những dãy đá ngầm và vùng biển nông quanh đó, ta thấy việc người Mỹ đổ dồn xuống vùng biển Thái Bình Dương còn tạo ra mối hăm dọa lớn hơn nhiều đến sự ổn định của các tuyến đường biển và thị trường năng lượng, vượt qua mọi tiềm năng thách thức của người Trung Quốc đối với tình trạng hiện nay.
Dưới đây, tôi sẽ nghiên cứu từng vấn đề một đi sâu vào chi tiết.
Trung Quốc sử dụng vũ lực: Thực tập an ninh và các bức bách về tài nguyên
Nếu các nhà phân tích khẳng định rằng việc người Trung Quốc trong tương lai, với khả năng sử dụng vũ lực trên vùng biển khơi sẽ là mối đe dọa đến sự ổn định cho thị trường năng lượng châu Á, buộc ta phải phân tích lại từ đầu với sự tìm hiểu là các nhà chiến lược Trung Quốc suy nghĩ và hành động ra sao trong việc sử dụng vũ lực. Những năm gần đây, ngày càng nhiều học giả nghiên cứu về nền quốc phòng của Trung Quốc đều có suy nghĩ và thực hành vay mượn từ lịch sử và kinh nghiệm nên dẫn đến ý niệm chinh sách đối ngoại của Trung Quốc bị neo giữ trong những mối bận tâm về an ninh và thiên về dùng vũ lực. Tuy nhiên, rất ít hoặc hầu như không có bằng chứng thuyết phục cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc xem việc dùng vũ lực là một công cụ để đạt được một cách dứt khoát – và ưu tiên – cho các mối quan tâm về kinh tế và tài nguyên.
Thoạt nhìn chúng ta thấy điều này có vẻ hợp lẽ thường. Như trường hợp đã qua là Nhật Bản trong thập kỷ 40 đã cho thấy những mối quan tâm về tài nguyên có thể dẫn quốc gia đến chỗ dùng vũ lực. Càng quan trọng hơn nữa, phát hiện này rất quan trọng vỉ những suy xét về tài nguyên và cán cân sức mạnh thực sự hòa quyện vào nhau trên nhiều vùng trọng yếu mà Trung Quốc đã đặt yêu sách. Điều này gây khó khăn trong việc truy tìm động thái chiến lược của Trung Quốc. Đồng thời cũng cho thấy rõ tại sao các nhà phân tích không nên quá vội vàng liên kết tiềm năng tài nguyên ở nhiều vùng khác nhau, gồm cả vùng biển Đông, vào sự gia tăng sức mạnh quân sự của nước CHNDTH và sự ưa chuộng dùng vũ lực cơ bắp của các vua chúa họ trong lịch sử.
Giới lãnh đạo Trung Quốc luôn kiên định hơn 50 năm qua trong thể hiện ý muốn dùng vũ lực để bảo vệ quyền lợi đất nước là điều không cần phải hỏi, gần như mọi kinh nghiệm và bằng chứng lịch sử cho thấy có 3 nhân tố căn bản hoàn toàn không dính líu gì đến động cơ kinh tế hay tài nguyên đã lót đường cho Trung Quốc sử dụng vũ lực từ sau năm 1949. Đáng lưu ý là những nhân tố này ngày càng kém quan trọng theo thời gian khi Trung Quốc đã xử trí rất thành công nhiều mặt quan trọng nhất của chúng. Hẵn thế, ngoại trừ vấn đề Đài Loan, điều đó rất đúng ở hai nhân tố đầu tiên:
- Đòi hỏi chủ quyền trên vùng lãnh thổ chủ yếu;
- Đấu tranh giai cấp;
- Hoặc các mối quan tâm chiến lược dính líu tới cân bằng lực lượng ở Đông Á.
Lịch trình chính sách quốc gia của Trung Quốc đã thay đổi đáng kể hơn hai thập kỷ qua và các vấn đề kinh tế / tài nguyên giờ đây cũng chồng chéo với nhiều mối quan tâm chiến lược khác. Tuy nhiên, suy xét hầu hết các khía cạnh để cân đối giữa các yếu tố liên quan thì mọi lý lẽ thừa nhận một sự liên kết qua lại giữa nhu cầu về kinh tế và phụ thuộc vào tài nguyên nằm ở một vế, còn việc Trung Quốc thiên về dùng vũ lực thì ở vế còn lại.
Để hiểu tại sao, chúng ta phải biết điều gì đó về động thái chiến lược của Trung Quốc và lịch sử sử dụng vũ lực của Trung Quốc trong thời kỳ ra đời của Nước CHNDTH (từ 1949 đến nay)
Chiến lược cư xử của Trung Quốc
Hầu hết học thuyết gần đây về việc thực hành chính sách an ninh quốc gia của Trung Quốc đều khoét sâu vào giả thuyết vững chắc cho rằng Trung Quốc trở sang tiếp cận hầu hết cực kỳ xảo quyệt về mặt ngoại giao và sử dụng vũ lực. Một khi đã cột chặt bởi chiến lược văn hóa, cấu trúc của hệ thống quốc tế, hoặc các khái niệm về an ninh của giới lãnh đạo tinh hoa Trung Quốc, truyền thống sức mạnh và cách suy nghĩ tự tôn sẽ là nền tảng cho mọi phân tích của chiến lược cư xử hiện thời của Trung Quốc.[6]
Trước nhất việc này quan trọng vì nó hướng các nhà lãnh đạo Trung Quốc quay về quan điểm cho rằng sức mạnh quân sự là một công cụ cực kỳ hữu dụng cho đối ngoại lẫn đối nội. Trên tất cả, các nhà quyết định chính sách Trung Quốc hành động rõ ràng theo định nghĩa hạn hẹp của họ về "lợi ích dân tộc" của Trung Quốc.
Định nghĩa về lợi ích dân tộc của người Trung Quốc thường hay choán hết chỗ dành cho quy phạm toàn cầu (tức là ngược lại với cục bộ, địa phương, quốc gia), hoặc dành cho việc hợp tác quốc tế những thứ chẳng qua là tạm bợ, hầu hết là những nền tảng mang tính công cụ. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, điều này có thể thay đổi, đưa đến một số lý do giúp lạc quan về nhiệm vụ đảm bảo ổn định khu vực vượt thời gian của Trung Quốc.
Các kiểu tính toán vụng về trong chiến lược xảo quyệt này đặc biệt liên hệ đến các yêu sách đòi lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó có vùng biển Đông. Thực vậy, trong gần toàn bộ các vấn đề như trên, giới lãnh đạo Trung Quốc đều ghim chặt nền an ninh và thủ pháp ngoại giao vào cái mà nhà khoa học chính trị Alastair Iain Johnston đã đặt tên là "những giá trị chủ quyền cường điệu". Lập trường của Trung Quốc trong các yêu sách tồn tại về đất đai rất ư cứng nhắc và trong thực hiện gần như luôn bất di bất dịch. Thực tế, chỉ có một trường hợp lớn về thỏa hiệp đất đai có văn kiện chính thức từ trước 1949 ở Trung Quốc – ghi nhận nền độc lập vùng Ngoại Mông vào năm 1950 và sự thỏa hiệp này dính dáng sâu đến mưu đồ bán đứt nội thổ cho mối liên hệ đồng minh Trung-Sô.
Mặc dù giới lãnh đạo Trung Quốc sau cùng đã dàn xếp dùng chủ quyền Mông Cổ đổi lấy một sự cộng tác chiến lược sâu rộng hơn với Liên Bang Xô Viết, điều đó cũng chẳng dễ chút nào. Bản thân Mao Trạch Đông cũng đã chịu một áp lực chính trị khủng khiếp, có thể nói là bị công kích, khi phải đồng ý cho sự trao đổi này.[7] Nói tóm lại, nhiều nhà phân tích thấy động thái chiến lược của Trung Quốc dường như chừa rất ít chỗ cho việc hợp tác giải quyết các vấn đề bằng cách nào khác ngoài những nền tảng mang tính công cụ nhất. Ngoài mặt mà nói, điều này khó mà mang đến nhiều hy vọng cho ổn định lâu dài khu vực, và nó tạo ra những khó khăn đặc biệt những nhà quan sát tương lai năng lượng châu Á vì rằng tuyến hàng hải cung cấp dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên phải đi chồng chéo lên nhiều vùng Trung Quốc đang yêu sách chủ quyền chưa giải quyết.
Cách sử dụng vũ lực của Trung Quốc
Thoạt đầu, các nhà phân tích về an ninh năng lượng châu Á có thể thấy cách thực hành an ninh của Trung Quốc là rối ren vì phần thân của học thuyết và tác động như trên đã nêu bật ra một câu hỏi quan trọng là bằng cách nào các nhà lãnh đạo Trung Quốc tìm ra cách thực hiện các yêu sách như vậy. Các chính khách Trung Quốc suy nghĩ ra sao về việc dùng sức mạnh như là một công cụ để đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại quan trọng?
Qua những công trạng có được do kinh nghiệm — ít nhất là trong vài năm qua — bằng chứng vạch ra đầu tiên cho thấy giới lãnh đạo Trung Quốc xem vũ lực là một công cụ thô lỗ (nhưng cũng hết sức hiệu quả) trong nghệ thuật lãnh đạo đất nước. Dĩ nhiên, đây không ngụ ý gì về sự "hung hăng" của người Trung Quốc như vốn có. Như Johnston đã nói rõ, bằng chứng đơn thuần về sử dụng vũ lực không nói lên được xung đột bắt đầu ra sao, ai gây hấn trước, và các ý đồ nào của Trung Quốc là có thể và không thể thực hiện được. Tuy nhiên, lịch sử về sử dụng vũ lực của Trung Quốc hồi năm 1949 đã nói lên đôi điều nhận thức quan trọng về quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc ra sao khi sự sử dụng khí tài quân sự trong trường hợp xảy ra xung đột.
Thực vậy, thống kê các cuộc tranh chấp địa phương dẫn đến giải quyết bằng quân đội tại Trung Quốc từ 1949 đến 1992 không ít hơn 118 vụ.[8] Cuộc khảo sát này còn bổ sung nghiên cứu sâu sắc hơn về các tranh chấp chủ yếu giữa Trung Quốc với nước ngoài trong hơn 40 năm qua, bao gồm xung đột ở Triều Tiên, eo biển Đài Loan, Ấn Độ, Indochina, biên giới Trung-Sô và biển Nam Trung Hoa.[9] Hai hướng tiếp cận cho thấy một cách rõ rệt đến mức nó ám chỉ là giới lãnh đạo Trung Quốc không ngần ngại trong việc sử dụng vũ lực. Thực tế, giới lãnh đạo Trung Quốc rất ít khi tránh né việc dùng vũ lực dựa vào thế "ỷ mạnh" của Bắc Kinh trong khi giải quyết các vấn đề an ninh ngắn hạn lại thường tạo thành dài hạn rồi vượt xa hơn thành các hiểm họa vĩnh viễn về an ninh. Thí dụ cụ thể nhất cho hiện tượng này dĩ nhiên là Hàn Quốc, nơi mà các thủ lĩnh chính trị Trung Quốc – bất chấp sự bất bình của nhiều tướng lĩnh quân đội PRC- đã can thiệp vào nhằm đảm bảo cho một vùng đệm nơi giáp ranh đông bắc Trung Quốc hầu từ đó tránh được việc lưỡng đầu thọ địch với Mỹ dọc theo biên giới đông bắc ( Hàn Quốc) và đông nam (Đài Loan).[10] Thực hiện việc trên, Trung Quốc đảm bảo được phần biên giới Mãn Châu nhưng đặt quan hệ Mỹ Trung vào thế đóng băng khiến cho PRC bị đặt vào sự hăm dọa tấn công rõ rệt của không ít hơn 7 đầu đạn hạt nhân vào các năm 50 [11]. Mối nguy này đã tạo ra vô số vấn đề mới về an ninh, tất cả lớn hơn nhiều so sự xung đột với Hàn Quốc đã bắt đầu đóng băng. Cuối cùng, giới lãnh đạo Trung Quốc bị buộc phải bắt đầu chương trình vũ khí nguyên tử bản địa. Họ không còn cách nào hơn là phải chia sớt lại phần tài nguyên hạn chế của mình dành cho những nhu cầu đa dạng cấp thiết phát triển trong nước.[12]
Nếu nhìn bên ngoài , các dữ liệu về định tính và định lượng kết hợp lại cho thấy hình ảnh một nước Trung Quốc hùng mạnh luôn sốt sắng viện đến sức mạnh một khi xung đột bùng nổ. Trung Quốc bị cuộc đối đầu về quân sự giữa các nước hóa (MID) với mức bình quân là 2,74 vụ hàng năm từ 1949 đến 1992. Có hai vụ đối đầu kéo dài suốt 5 năm là trong thời kỳ Mao (1954 – 58 và 1964 – 68), các dữ liệu này cũng cho thấy rõ là thái độ thiên về MID vẫn còn ngay sau khi Trung Quốc chuyển hướng qua việc ít dựa hơn vào việc quân sự hóa các cuộc đối đầu từ năm 1978. Từ đó Johnston, người tổng hợp dữ liệu, ghi chú rằng tỷ lệ MID nói chung của Trung Quốc đã chậm lại từ sau 1966. Nhưng nó "tồn tại tương đối liên miên từ giữa thập niên 70 đến cuối thập niên 80″. Nói một cách khác, thời kỳ Đặng Tiểu Bình cho đến cuối thập kỷ 80 khuynh hướng về MID giảm không đáng kể so cuối thời kỳ Mao Trạch Đông, dù vậy nó vẫn ít khuynh hướng đối đầu hơn so với cuối thời Mao".[13]
Điều đáng quan tâm nhất về bằng chứng cho việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là, với mọi ồn ào ngoài mặt về Trung Quốc có thói quen phô trương chính sách khí tài quân sự trong cách giải quyết một vấn đề, nó thực sự đưa ra ba kết luận sâu sắc hơn, có thể là tin tốt lành cho các nhà phân tích về an ninh năng lượng châu Á.
Thứ nhất, gần như Trung Quốc sử dụng vũ lực khi có liên quan đến chủ quyền và yêu sách lãnh thổ. Không trường hợp nào có dính líu đến thuần túy kinh tế hoặc các lo lắng về tài nguyên. Thứ nhì, dữ liệu định lượng đặc thù cho thấy sự phát triển khả năng quân sự của Trung Quốc từ 1978 đến 1992 không liên hệ với mức tăng khuynh hướng đối đầu đang lên cao. Thứ ba, điều này có nghĩa là, về mặt hiệu quả, Trung Quốc tự mình phô trương ra càng nhiều sức mạnh(quân sự) lại cho thấy gần như không có khả năng Trung Quốc sử dụng vũ lực. Yêu sách của Trung Quốc về lãnh thổ trong thực tế trở nên bớt nổi cộm qua thời gian, và các giải pháp hợp tác với nguồn cung cấp năng lượng châu Á — khi nào họ thành công trong cách xoay sở và không trực tiếp khiêu khích đến các yêu sách chủ yếu về lãnh thổ của Trung Quốc— chứng tỏ tính khả thi trên thực tế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters