“Thế giới thuộc về những ai sống có nhiệt huyết, say mê và có khát vọng cháy bỏng”. Ralph Waldo Emerson
Triết Lý, để làm gì ?
Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:
a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào
b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.
c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?
Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.
Thế thôi.
(Chungta.com)
Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ
“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.
22 thg 6, 2010
Từ Malacca đến Hormuz: Anh ninh năng lượng của TQ
02/04/2010
Nhà nghiên cứu Vijay Sakhuja - Nguyễn Hải chuyển ngữ
Peace Forum (Diễn đàn Hòa bình), 30/06/2003
Đại học Jawaharlal Nehru, New Delhi, Ấn Độ
Giữa vô vàn âu lo về cuộc tấn công sắp tới của Hoa Kỳ vào Iraq, vẫn có những nỗi sợ hãi về một cuộc chiến tranh có khả năng xảy ra làm gián đoạn các nguồn cung cấp dầu mỏ từ Trung Đông. Trung Quốc (TQ) nhập khẩu 60% lượng dầu từ vùng đó và vì vậy an ninh năng lượng là điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí của chính phủ TQ. Điều lo lắng của các viên chức là nguồn cung cấp nội địa chỉ có thể kéo dài vài ngày và dự trữ dầu lại có tính quyết định cho loại kinh tế đệm này hầu đối phó lại sự gián đoạn của nhập khẩu. Hiện tại thì dự trữ dầu còn rất ít và chính phủ thảo ra kế hoạch xây dựng các kho dự trữ trong nỗ lực tạo ra an ninh năng lượng. Theo một đề xuất, TQ sẽ mua dầu từ các nguồn nước ngoài và chứa trong các bồn dầu tại các tỉnh ven biển đông nam. Kho dự trữ như vậy có thể lên đến khoảng 6 triệu tấn vào năm 2005.
TQ đã thực sự trở thành nước nhập khẩu dầu vào năm 1994. Năm 2000, khoảng cách giữa sản xuất nội địa và tiêu dùng quốc gia là 1,591 triệu thùng dầu (ttd) mỗi ngày. Đến năm 2049, nhu cầu về dầu thô của TQ được ước lượng vào khoảng 10 ttd mỗi ngày trừ phi có thêm được các dự trữ nội địa được phát hiện. Mặc dù than đá có thừa thãi nhưng chất lượng quá kém, còn thủy điện không đủ cho nhu cầu đang tăng về hiện đại hóa kinh tế. Sự thiếu hụt năng lượng là nguyên nhân làm đình trệ quá trình hiện đại hóa ở TQ. TQ sẽ phải nhập khẩu cả hai dầu thô và khí đốt để duy trì kinh tế.
TQ nhập khẩu phần lớn nguồn dầu từ các nước Trung Đông và Đông Nam Á. Trong số các nước này, phần lớn dầu đến từ Iran, Iraq và Libya. Xét đến đường vận chuyển khá dài, sự an toàn của các tuyến đường dành cho tàu biển trở nên quan trọng. Tuyến đường biển chính nối bờ đông TQ đi qua biển Nam Trung Hoa với bên này hay bên kia của nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước khi gặp eo biển Malacca. Có những ngõ phụ của tuyến đường biển này, nối các eo biển Sunda, Lombok và Makassar. Các eo biển phía nam này của quần đảo Indonesia và các đảo trong biển Nam Trung Hoa được dùng làm nút điều tiết quan trọng cho lưu lượng tàu thủy trong vùng.
Một khối lượng lớn giao thông hàng hải quốc tế qua lại eo biển Malacca. Năm 1993, trên 500 tỉ đôla thương mại bằng đường biển đi qua những nút điều tiết then chốt này. Con số kinh doanh 568 tỉ USD này đã tính đến trên 15% tổng số mậu dịch xuyên biên giới của thế giới nhưng không bao gồm thương mại trong vùng. Từ eo biển Malacca, tuyến đường biển xuyên qua Ấn Độ Dương gần như bám sát bờ biển Ấn Độ cho đến eo biển Hormuz. Khoảng nửa số lượng dầu mỏ buôn bán của thế giới đi qua eo biển này. Hormuz khá sâu, và các tàu có khối lượng tịnh 160.000 tấn có thể đi qua eo này. Tuyến đường biển này cũng đi về hướng tây qua kênh đào Suez vào biển Địa Trung Hải. Do đó, đối với TQ, các eo biển Malacca, Hormuz và kênh Suez có tầm quan trọng về mặt chiến lược cho sự an ninh của các tuyến đường biển.
Bắc Kinh đã từ lâu biết được tầm quan trọng địa- chiến lược của Myanmar. Hạ tầng cơ sở chiến lược do TQ xây dựng gồm có mạng đường xá, truyền thông và tình báo, và các căn cứ quân sự. Một triển khai chiến lược khác tại Myanmar là các hệ thống tình báo điện tử của TQ phát triển nhanh như nấm. Trong số này, quan trọng nhất là hệ thống do thám hàng hải và tình báo điện tử trên đảo Great Coco (Cây dừa lớn) trong vịnh Bengal. Điều này phản ánh sự quan tâm về chiến lược của Bắc Kinh trong vịnh Bengal. Hơn nữa, mạng tình báo tại Sittwe và Zedetkyi Kyun ngoài khơi bờ biển Terrasserim ở phía nam Myanmar tạo cho TQ lợi thế chiến lược mong muốn trên Ấn Độ Dương. Tiện nghi có được tại Zedetkyi Kyun đặc biệt nhạy cảm và giờ đây người TQ có thể ngồi dạng chân trên eo biển Malacca để giám sát bất kỳ bất trắc hàng hải nào tác động đến an ninh cho tuyến đường biển của họ.
Các thế chủ động tương tự của TQ cũng có thể thấy được tại Pakistan. Vào tháng Ba năm 2002, Phó Thủ tướng TQ Ngô Bang Quốc (Wu Bangguo) đã đặt viên đá móng cho cảng biển nước sâu tại Gwadar. Pha đầu tiên của dự án được hoàn thành trong ba năm với giá 248 triệu đôla, trong đó TQ đóng góp 198 triệu USD. Việc xây dựng gồm ba cầu cảng dài 200 m mỗi cầu, với khu hỗ trợ 300 m. Khi giai đoạn hai kết thúc, cảng có thể tiếp nhận các tàu chở hàng khô có khối lượng tịnh 100.000 tấn và các tàu chở dầu có khối lượng tịnh 200.000 tấn. Cuối cùng thì Gwadar cung cấp nhiều tiện nghi cho thương mại bằng đường biển và chuyển hàng từ tàu sang tàu, kể cả khí đốt từ các nước Trung Á đến Tân Cương (Xinjiang) của TQ hoặc ngược lại.
TQ giúp Pakistan phát triển Gwadar với mục tiêu chiến lược là theo dõi tuyến đường biển của nó từ vịnh Ba Tư (vịnh Iran). Theo thuật ngữ thuần túy địa lý, Gwadar có tầm quan trọng chiến lược cho TQ và giúp nó ngồi dạng chân trên tuyến đường biển bắt đầu từ nút điều tiết chiến lược là Hormuz. TQ đã chối là Gwadar không có quy mô quân sự nào cho TQ. Theo phát ngôn viên bộ ngoại giao TQ Sun Yuxi, Gwadar là một cảng dân sự nên không liên quan đến hải quân (TQ). Thật ra, quyền lợi của Bắc Kinh ở Gwadar còn vượt quá cả vấn đề an ninh năng lượng liên quan đến việc vận chuyển từ vịnh Ba Tư và cung cấp cho TQ một căn cứ tiền tiêu để giám sát hoạt động của hải quân Hoa Kỳ trong vùng vịnh Ba Tư cũng như là hoạt động của hải quân Ấn Độ trên biển Ảrập. Phân tích nhanh các diễn biến này cho thấy rõ là TQ đã theo đuổi một chiến lược năng nổ về an ninh cho các tuyến đường biển sặc mùi gia vị kinh tế, chính trị và quân sự.
Việc buôn bán quân sự của bắc Kinh với Tehran, đặc biệt là trong lĩnh vực vũ khí hủy diệt hàng loạt và những công nghệ liên quan, đã cho phép TQ củng cố được một chỗ đặt chân trong cảng Bander Abbas của Iran, nằm ngay trong vịnh Ba Tư và dạng chân trên eo biển Hormuz. Năm 1987, TQ đã bán cho Iran các tên lửa hành trình chống tàu thủy “Silkworm (Sâu tằm)” và cũng đã đồng ý cung cấp cho Iran thiết bị và công nghệ để triển khai và thử nghiệm các tên lửa đạn đạo tầm trung. Đến năm 1990, TQ và Iran đã ký kết một giao kèo 10 năm về hợp tác khoa học và chuyển giao công nghệ quân sự. Năm 1996, từ một trong 10 chiếc tàu tuần tra hạng Houdong do TQ đóng, Iran đã bắn thử nghiệm một tên lửa hành trình mặt-đối-mặt (đất-đối-đất) C-802 có xuất xứ là TQ. Như vậy, TQ là nguồn cung cấp chính về thiết bị và công nghệ cho việc triển khai và thử nghiệm các tên lửa đạn đạo tầm trung của Iran.
Một nước tương đối mới bước vào phép tính của TQ về an ninh là Maldives. Từ lúc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1972, hợp tác kinh tế và thương mại giữa TQ và Maldives liên tục phát triển. Mức độ hợp tác kinh tế TQ-Maldives khá giới hạn với khối lượng mậu dịch song phương chỉ là 1,358 triệu USD. Nhưng điều đáng quan tâm nhất là TQ đã “sắp đặt kiểu đảo chính bằng cách thuyết phục chính phủ Abdul Gayoom của Maldives cho TQ thiết lập một căn cứ tại Marao.” Theo giới truyền thông thuật lại, một thỏa thuận đã được hoàn thành trong cuộc viếng thăm của Thủ tướng TQ Chu Dung Cơ (Zhu Rongji) đến Male vào tháng Năm năm 2001. Trong thuật ngữ địa- chiến lược, diễn biến này thật sự đáng lưu ý và giúp TQ có thể giám sát các tuyến đường biển chạy dọc theo duyên hải Ấn Độ. Ngoài ra, TQ cũng có thể giám sát hoạt động của hải quân Hoa Kỳ ở Diego Garcia và tham gia vào việc do thám điện tử trong khu vực, một diễn biến giống như sáng kiến do thám điện tử của TQ tại Kiribati trên Thái Bình Dương.
TQ đã từ lâu hiểu được tầm quan trọng chiến lược của Ấn Độ Dương. Ấn Độ Dương đã xuất hiện trong tư tưởng chiến lược của các nhà đi biển Trung Hoa xưa giong buồm đi buôn qua những vùng nước này. Các nhà chiến lược, kế hoạch gia và kỹ sư hàng hải của TQ vững tin là Ấn Độ Dương chi phối các đường huyết mạch thương mại và kinh tế của vùng châu Á- Thái Bình Dương, và thực tế này đối với TQ ngày càng quan trọng. Sự nổi lên của hải quân và quân đội TQ trên Ấn Độ Dương là ưu tiên chiến lược chủ đạo đối với các nhà đặt kế hoạch ở Bắc Kinh. Sự nổi lên này nhắm đến việc củng cố tư thế quân sự của TQ trong một môi trường thù địch ngày càng tăng, nơi mà khả năng va chạm quân sự với Hoa Kỳ trong một tương lai có thể dự đoán trước không thể bị loại trừ.
Về phía Ấn Độ, năm 1993, một bản ghi nhớ tuyệt mật đã giải nghĩa các kế hoạch chiến lược của PLA là củng cố sự kiểm soát trên Ấn Độ Dương theo học thuyết “phòng thủ viễn dương.” Tướng Triệu Vy (Zhao Nanqi), Giám đốc Tổng Cục Hậu cần của PLA, đã lưu ý, “Chúng ta không thể chấp nhận Ấn Độ Dương như là một đại dương chỉ của người Ấn.” Bắc Kinh không còn nghi ngờ gì việc Ấn Độ sẽ chống đối lại sự trỗi dậy chiến lược của TQ và Triệu tuyên bố, “Chúng ta đang tính đến các cuộc xung đột vũ trang trong vùng.”
Một trong những nhiệm vụ chính của Hải quân PLA là bảo vệ các tuyến đường biển. Như đã được lưu ý, TQ dựa rất nhiều vào thương mại bằng đường biển cho sự sinh tồn về kinh tế cũng như là cho nhu cầu năng lượng của nó. Trong trường hợp mà các nút điều tiết chiến lược ở vịnh Ba Tư, Đông Nam Á và eo biển Nam Trung Hoa bị đóng lại, TQ sẽ hoàn toàn bị tác động bất lợi. Hải quân PLA được giao nhiệm vụ giữ cho các tuyến đường biển rộng mở và hộ tống các tàu chở dầu của TQ đi qua các eo biển chiến lược này.
Trong trường hợp các eo biển Malacca và Hormuz bị đóng lại, Hải quân PLA sẽ được điều động đến Ấn Độ Dương để bảo vệ các tàu chở hàng đi đến các tuyến đường biển qua các điểm chiến lược này. Để bảo vệ thành công an ninh cho các tuyến đường biển, hải quân cần số lượng khá lớn các tàu hải quân có khả năng hoạt động xa cảng nhà. Hải quân PLA có khả năng đảm nhận việc triển khai chiến đấu ở xa bằng cách dựa vào các lực lượng vũ trang trên mặt biển, dưới nước và trên không. Nhưng điều này đòi hỏi phải có căn cứ hoặc cơ sở hạ tầng để thực hiện việc điều động kéo dài này.
Đối với kết cục đó, TQ triển khai một chiến lược năng nổ nhắm vào việc hỗ trợ Myanmar, Maldives, Pakistan và Iran xây dựng các tiện nghi hải quân. Điều quan trọng là phần lớn việc trợ giúp này tập trung dọc tuyến đường biển từ Malacca đến Hormuz. Khía cạnh đáng báo động nhất của các diễn biến này có lẽ là việc sử dụng những tiện nghi đó cho việc hỗ trợ sự trỗi dậy của Hải quân PLA vào Ấn Độ Dương. Sự cam kết hiện nay của TQ vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở, dù có gây ấn tượng chăng nữa, có lẽ là sự khởi đầu của mối quan tâm của TQ vào Ấn Độ Dương.
Copyright © 2009 by Bauxite Việt Nam International http://bauvinal.info.free.fr http://bauxitevietnam.free.fr
Chia sẻ:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét