Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

22 thg 6, 2010

Biển đông dậy sóng ?

SOÁT XÉT QUA CÁC ĐỘNG CƠ CỦA TRUNG QUỐC:
VẤN ĐỀ VÙNG BIỂN NAM TRUNG HOA.
Biển đông dậy sóng ?
Điều này cung cấp một quan niệm lý tưởng làm chỗ dựa trong cuộc tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa, nơi mà sự quan tâm đến tài nguyên và các câu hỏi về chủ quyền chồng chéo lên nhau, trong đó các kết luận sâu sát hơn có thể chỉ ra rằng một vài nhà quan sát đã quá hấp tấp khi đưa ra quy tắc tiếp cận mang tính hợp tác đối với sự tranh chấp. Thực vậy, vùng biển Nam Trung Hoa cung cấp cho chúng ta một trường hợp lý tưởng là bằng cách nào và tại sao sẽ rất nguy hiểm khi chỉ xem khái quát các dấu hiệu chiến lược từ các tình huống đặc biệt mà trong thực tế là bao hàm nhiều (và chồng chéo ) các động cơ của Trung Quốc.
Mặc dù Trung Quốc thỉnh thoảng tung tin về các đề xuất liên doanh phát triển cho khu vực, nhưng không có gì đáng kể về số hoạt động thực hiện của Trung Quốc ở khu vực này được khẳng định trong mấy năm qua.[14] Song sự khẳng định vùng nào đó tự nó không thể bao hàm một sự hung hăng chiến lược . Nó đặc biệt quan trọng để nhồi nhét vào các tranh luận ấn định "sự hung hăng" của Trung Quốc với hai chuẩn đánh giá then chốt.
Trước hết, sự nhập nhằng giữa chủ quyền và các vấn đề khác nơi Trung Quốc đang chiếm giữ làm cho khó thể phân tích chính xác được ý đồ của họ. Sau rốt, thực quá dễ để xem xét các hành động của Trung Quốc trong khu vực này, cho rằng nó "hung hăng", và gán mục tiêu chiến lược lớn hơn vào chính sách của Trung Quốc. Thật không may, sự lộn xộn xà ngầu ở đây là các tranh cãi về vùng biển Nam Trung Hoa bao gồm:
* Sự quan tâm về tài nguyên — Sau cùng, đó là yêu sách về giếng dầu Crestone đầu tiên kích hoạt một loạt những sự chú ý mới đến vấn đề trong thập kỷ 90.
* Sự quan tâm về cân bằng lực lượng — Chiến thuật cạnh tranh của Trung Quốc với Nhật, Đài Loan và Đại Hàn, đặc biệt khi kết hợp với sự kiểm soát hải lộ của Mỹ tại châu Á và các nguồn cung cấp dầu mỏ vịnh Péc Xích, có thể được cho là cấu thành một mối quan tâm chiến lược liên quan đến tương quan lực lượng vùng Đông Á.[15] Như vậy, mọi nổ lực của người Mỹ và người Nhật nhằm độc quyền cung cấp năng lượng trong vùng sẽ làm lệch cán cân lực lượng đối với Trung Quốc nhiều hơn nữa so hiện nay trong khi nhu cầu năng lượng của PRC ngày càng bị hạn chế; và
* các vấn đề về chủ quyền.
Nhưng tranh cãi về chủ quyền có thể bao trùm hết mọi thứ, và điều này cho thấy sự nguy hiểm của việc dò xét chiến lược ở các khu vực bị Trung Quốc đưa ra yêu sách về lãnh thổ. Trong thực tế, đòi hỏi của Trung Quốc về vùng biển Nam Trung Hoa nhường chỗ cho việc giao dịch Crestone và cuộc thảo luận về chiến lược cạnh tranh ở mặt cung cấp năng lượng, một thảo luận chỉ được tăng tốc khi Trung Quốc tiến hành cơ cấu đại quy mô chương trình kinh tế vào thập niên 80. Như đã nêu trên, tư thế ngoại giao của Bắc Kinh trên vấn đề chủ quyền là cứng nhắc và không chút nhân nhượng trong từng trường hợp một. Điều này bao gồm cả những vùng, như Tây Tạng, có rất ít giá trị kinh tế, cũng như số vùng khác — kể cả Tây Tạng — nơi mà giá trị chiến lược cơ bản rất đáng ngờ.[16]
Vậy thì không rõ Trung Quốc có thúc đẩy đòi hỏi của mình về quần đảo Spratly bớt mạnh mẽ chút nào không nếu như vùng này không có hoặc có ít tài nguyên năng lượng. Có lẽ vấn đề phân tích quan trọng nhất đưa ra về nghi vấn vùng biển Nam Trung Hoa là liệu ta soát xét cách nào hành động của Trung Quốc với nhiều động thái chồng chéo . Kết quả là chúng ta có được kiểu vấn đề con gà và quả trứng cái nào có trước: có phải là căng thẳng về tài nguyên, các quan tâm về chiến lược, hoặc tranh cãi về chủ quyền là động lực đàng sau những yêu sách của Trung Quốc đối với vùng này ? Rõ ràng ba mối đều liên kết nhau và sẽ sai lầm nếu bỏ qua cái này hoặc cái kia. Tuy nhiên, sự kiện Trung Quốc thực hành an ninh từ 1949 cho ta thấy rõ là không ủng hộ quan điểm cho rằng giới lãnh đạo Trung Quốc là dựa vào sức mạnh để giải quyết các vân đề khó xử về kinh tế và tài nguyên, trường hợp đơn lẻ về thái độ quyết đoán ở quần đảo Trường sa (Spratly) cung cấp rất ít hoặc không phải là bằng chứng về vấn đề cung cấp dầu mỏ và an ninh năng lượng.
Một lý do minh họa cho trường hợp này là nó đi thẳng vào câu hỏi liệu Trung Quốc sẽ thách thức hoặc khẳng định chiến lược như vốn có. Những người theo dõi thị trường năng lượng châu Á có thể nhận thấy trường hợp vùng biển Nam Trung Hoa là rối rắm vì nó đưa ra một nước Trung Quốc sốt sắng phô trương giải pháp đàm phán trực tiếp các vấn đề và từ chối mọi nổ lực hợp tác, đa phương, hay liên doanh phát triển.
Chưa thể kết luận được vì nếu cho rằng Trung Quốc khiêu khích nhằm mở rộng hiện trạng chiến lược thì không thể khả quyết do ít nhất bốn lý lẽ sau:
Đầu tiên, sự ngự trị của hải quân Mỹ trên các tuyến hàng hải châu Á thì dường như vẫn còn nguyên xét về mặt năng lực — khẳng định qua sức mạnh trên lục địa như trường hợp Trung Quốc — trong ít nhất một phần tư thế kỷ nữa. Xuất phát này, trước nhất, từ lợi thế kỹ thuật trên mọi mặt của người Mỹ, việc này sẽ được nghiên cứu chi tiết hơn ở phần dưới khi tôi thảo luận về các nổ lực hiện đại hóa của Trung Quốc như đã áp dụng nhằm hiện thực sức mạnh. Nhưng, càng quan trọng hơn, như nhà khoa học chính trị Robert Ross đã nêu, nó cũng là một nhiệm vụ thuần túy về địa lý, đặc biệt khi ghép với một mạng lưới được duy trì cẩn thận của liên minh Mỹ và đồng minh trong vùng Châu Á- Thái Bình Dương.
Chiến lược của Mỹ tại châu Á từ cuối cuộc xung đột tại Việt Nam năm 1975, Ross ghi nhận, đã bị thu hút vào hiện thực cân bằng đường biển với sức mạnh quân sự trên bộ của Trung Quốc và Xô Viết. "Từ Nhật Bản ở đông bắc Á đến Mã Lai ở đông nam Á", ông đã quan sát, "vùng đất liền ở phía đông châu Á được bao quanh bên ngoài bởi các quốc gia có chuổi đảo liên tục, giữ thế chiến lược về vị trí và căn cứ hải quân. Chiếm hữu được những nước này sẽ cho phép lực lượng đường biển triển khai hiệu quả các chiến dịch hải quân dọc theo vành đai của lực lượng trên bộ".[17] Điều này cũng ngăn cản các lực lượng trên bộ có khát vọng đường biển, như Trung Quốc hiện tại, không cho mở rộng chiếm hữu ra vùng biển khơi một cách thuận lợi.
Hiệu quả là, như Rossy quan sát chính xác, các đòi hỏi của chiến lược như thế đã cho phép hải quân Mỹ khả năng đảm bảo cho Mỹ và đồng minh qua lại an toàn các vùng tài nguyên chiến lược, kể cả dầu mỏ. Điều này cũng cho Mỹ một nhiệm vụ đặc biệt như là người bảo lãnh hệ thống trong việc đảm bảo các tuyến hàng hải. Như vậy, như Ross đã ghi nhận, "ngay cả nếu Trung Quốc phát triển khả năng hải quân trong miền duyên hải của họ, trong điều kiện tối thiểu về tài chánh và sự bất tiện về chiến thuật, đội tàu thương mại và quân sự của Mỹ và đồng minh có thể sử dụng các tuyến hàng hải an toàn nằm xa căn cứ máy bay trên đại lục và nằm trong tầm chi phối của máy bay Mỹ và lực lượng hải quân đặt căn cứ tại các đảo quốc".[18]
Trớ trêu thay, điều này cột chặt vào lý do thứ nhì cho thấy tại sao những dự đoán về sự bất ổn lại không chắc chắn. Nó liên quan đến các ý định bá chủ sức mạnh và khả năng hội tụ các quan tâm giữa Mỹ và Trung Quốc trong việc lưu thông tự do các hàng hóa chiến lược. Một hiện trạng là lực lượng Mỹ giữ an toàn cho các quyền lợi của người Mỹ thông qua việc đảm bảo tuyến hàng hải ngoài khơi không chỉ cho phép Mỹ giữ vững vị thế của các đồng minh trong khu vực, đặc biệt là Nhật. Nó còn cho phép Trung Quốc hưởng lợi từ sự tự do và không giới hạn dòng chảy của dầu mỏ và các tài nguyên năng lượng chiến lược khác. Trong thực tế, các quyền lợi của Mỹ được đảm bảo tốt nhất qua một hệ thống mở trong việc qua lại khu vực, do hải quân Mỹ đảm bảo, mà từ đó Trung Quốc cũng được hưởng lợi. Tôi sẽ trở lại đề mục này chi tiết hơn trong phần tiếp.
Thứ ba, ngay cả khi nếu Trung Quốc mong muốn tăng cường yêu sách của mình về lãnh thổ ở vùng biển Nam Trung Hoa, vùng này đưa ra vài điểm nhảy trượt mà trong Trung Quốc phải đứng trong vị thế xây dựng khả năng tên lửa chiến lược khả dĩ thách thức được Mỹ -đang khống chế hệ thống đường biển đã nêu. Quần đảo Trường Sa(Spratly) đơn giản là quá nhỏ để đóng vai trò bàn đạp cho sức mạnh tên lửa về sau. Điều này giảm thiểu giá trị chiến lược của Trung Quốc xuống cở mức khẳng định đòi hỏi mang tính địa phương. Liệu nó có thật sự hăm dọa đến các trụ chống trong cân bằng chiến lược khu vực nếu như Trung Quốc chiếm đóng các đảo Trường sa (Spratly) ? Soi rọi mức độ nhỏ nhoi của yêu sách như về Mischief Reef thì có thể kể là Trung Quốc khiêu khích đến cán cân hàng hải của Mỹ không, câu trả lời có lẽ là: thực ra rất là ít.
Cuối cùng, các yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường sa (Spratly Islands) không hẵn là mâu thuẩn với sự trường tồn trung-đến-dài hạn của hiện trạng an ninh hiện nay. Điều này có vài quan hệ mật thiết sâu sắc đến tương lai thị trường năng lượng châu Á vì nó cho thấy rằng một mức độ lạc quan cần phải được giữ gìn. Sau rốt, ngay cả một giải pháp làm thỏa mãn các đòi hỏi khẳng định thêm của Trung Quốc — một giải pháp nhìn nhận về mặt luật pháp chủ quyền cho Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa– cũng có thể, trong thực tiễn, giữ nguyên các trụ cột thiết yếu của hệ thống an ninh hiện tại, gọi là thăng bằng hàng hải cho người Mỹ. Hiệu quả là nhìn nhận trên pháp lý chủ quyền Trung Quốc trên vùng biển đó có thể thực sự được ổn định lâu dài. Nó sẽ tức thì nhổ mất răng nanh của những người Trung Quốc có tình cảm dân tộc chủ nghĩa điên dại qua việc thỏa mãn một yêu sách chủ quyền cho họ, trong khi cùng lúc, trong thực tiển, cho Trung Quốc rất ít thực chất để có thể khiêu khích an ninh các tuyến đường biển châu Á.
HỢP TÁC HAY XUNG ĐỘT: SỰ ỔN ĐỊNH TRONG LỜI CAM KẾT ĂN THEO CỦA TRUNG QUỐC
Các lý lẽ thảo luận trên đưa ra một kết luận thẳng thắn: Sự hiện diện của người Mỹ là sống còn cho ổn định khu vực. Nhưng nó cũng cho thấy sự hiện diện chủ đạo của Mỹ trong vùng thuộc tuyến đường biển ở châu Á có các điểm lợi lộc không mâu thuẩn với các mục tiêu của Trung Quốc về chiến lược cung cấp năng lượng. Trong thực tế, có quá nhiều lý lẽ dự đoán về sự bất ổn ở khu vực dựa trên các hình thành đánh giá thấp vào sự lệ thuộc năng lượng của Trung Quốc hoặc đơn giản chỉ lượn quanh sự kiện này. Trong các yếu tố cần thiết của nó, hiện trạng chiến lược –Hải quân Mỹ hiện diện như một người bảo lãnh cho hải lộ Đông Nam và Tây châu Á– làm thỏa mãn các quan tâm cốt lõi của nền kinh tế Trung Quốc (cũng như nhiều mặt an ninh khác). Vậy thì nếu, như các học thuyết gần đây nhất về cách hành xử để bảo vệ an ninh của Trung Quốc dường như chỉ ra, các nhà chiến lược Trung Quốc hành động trên cơ sở những tính toán mềm mỏng cho lợi ích quốc gia, xảy ra một sự khiêu khích của nước CHNDTH (PRC) đối với trật tự hiện tại thì dường như đó là một lựa chọn không thực tế và tốn kém. (Đây là điều tác giả muốn nhấn mạnh về sự cần thiết của Mỹ tại khu vực nầy sau khi thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam—người dịch)
Trong thực tế, tôi muốn nêu rõ là các mục tiêu kinh tế cốt lõi của Trung Quốc có thể đạt được dễ dàng hơn nhiều qua cái mà các nhà lý luận về quan hệ quốc tế gọi là động thái "ăn theo" hơn là qua bất cứ loại biện pháp mạnh nào hoặc phải dính líu đến khu vực vượt-ngoài-vùng-biên để đảm bảo cho SLOCs và tuyến chở hàng xuyên đại dương. Trong khi Trung Quốc một ngày nào đó có thể có đủ sức khiêu khích đối với sự thống trị của hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương, theo cách suy nghĩ truyền thống về cân bằng lực lượng, không xem xét các cơ sở hợp lý về kinh tế và tài nguyên, là điều dường như thích hợp nhất thúc đẩy Bắc Kinh đi theo chiều hướng này.
Đối với các nhà phân tích an ninh năng lượng châu Á, đặc biệt là, điều này dẫn đến sự ổn định trung và dài hạn. Nhưng, dĩ nhiên, nhiệm vụ tạo ra viễn cảnh này tùy thuộc vào hành động của Mỹ và Nhật, không phải Trung Quốc. Vì nếu các nhà chiến lược Trung Quốc có thể giải quyết các vấn đề về tài nguyên và an ninh một cách ít tốn kém hơn qua việc buông lơi để Mỹ chăm lo sự ổn định của các tuyến biển châu Á, thì những tính toán chiến thuật ngoại giao mềm mỏng mà hầu hết các nhà phân tích gán cho giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ cho thấy rằng chỉ khi nào cố tình cắt nguồn cung cấp của Trung Quốc thì mới có thể gây ra các vấn đề về cân bằng sức mạnh , dấy lên một phản ứng từ quân đội Trung Quốc. Với toàn bộ sự giả dối trong tuyên truyền của nước CHNDTH (PRC) về sự bá quyền của hải quân Mỹ ở vùng Châu Á-Thái Bình Dương, sự tồn tại của những tuyên đường biển mở sẽ thỏa mãn mục tiêu cho các bên Trung Quốc, Nhật và Mỹ, sẽ khuyến khích sự hội tụ các quyền lợi về mặt cung cấp tài nguyên chiến lược, và kiểm soát các động thái gây hấn, ít ra cũng trong khoảng thời gian ngắn đến trung hạn.
Như vậy, vấn đề dài hạn là sự cân bằng tế nhị sẽ nầy lệ thuộc vào sự độc quyền cho Mỹ khống chế tuyến đường biển . Nhưng trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, hoàn cảnh ngân sách bị cắt giảm, các áp lực và nhiệm vụ toàn cầu mới, sự ủy thác tầm xa cho Mỹ về triển khai trước sự hiện diện của quân đội trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương có thể không còn được cho phép.[19] Kể đến gánh nặng chia sẻ lớn hơn, các căng thẳng mới với Nhật và sự tăng đột ngột chủ nghĩa hoài nghi trong Quốc hội, tất cả góp thành những áp lực mới (và đang tiến triển) ảnh hưởng đến viễn cảnh về sự duy trì dài hạn các nỗ lực cân bằng hàng hải trên quy mô lớn.
Tuy nhiên, nếu sự hiện diện của Mỹ bị biến mất hoặc co cụm lại, mọi dự đoán về sự kiềm chế của Trung Quốc sẽ biến mất. Các lý do cho việc nầy cũng dễ hiểu thôi. Nếu các mục tiêu cốt lõi của Trung Quốc là rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất đạt được qua việc giao phó cho Mỹ sự ổn định ở tuyến đường biển ở Châu Á-Thái Bình Dương , thì bất cứ thay đổi nào trong sự đảm bảo nêu trên cũng làm biến đổi ma trận lựa chọn chiến lược trước mắt giới lãnh đạo Trung Quốc. Đặc biệt, điều này phát xuất từ suy nghĩ hết sức thông thường là do nhiệm vụ của Mỹ ở vùng biển châu Á đã là một sự khống chế . Ví dụ đơn giản nhất như là Mỹ đảm bảo SLOCs là vùng mở đã tạo ra phi điều kiện cho mọi bên, kể cả Trung Quốc và Nhật, được tự do đi lại
Nhãn hiệu nhân từ của quyền bá chủ này là một hệ quả tất yếu hợp lý trong chiến lược của Mỹ về sự cân bằng hàng hải Đông Á. Mỹ thể hiện các nhiệm vụ này ở vùng SLOCs Châu Á là chính xác với những lý do mà Robert Ross đã mô tả. Một nhiệm vụ như thế lập tức ổn định hóa quyền tiếp cận tài nguyên và thương mại của các đồng minh Mỹ trong lúc giúp Hải quân Mỹ duy trì sự có mặt cần thiết nhằm kiềm chế các mối nguy ở đại lục hăm dọa đến vị trí chủ đạo của Mỹ về hệ thống an ninh hàng hải, hiện vẫn đang chiếm ưu thế quanh vành đai Thái Bình Dương.
Vai trò bá quyền của Mỹ, khi cắt bớt, sẽ ảnh hưởng toàn bộ các điều kiện trên.
Đầu tiên, trong khi các nhà hùng biện chính trị Trung Quốc thường xuyên phê bình "quyền bá chủ" của Mỹ trên các báo trong nước, một sự thật tồn tại là chính xác là quyền bá chủ này đã ngăn cản các thế lực khu vực tiến lên đảm nhiệm thay thế. Quyền bá chủ của Mỹ kìm hãm Trung Quốc, dĩ nhiên, và nước CHNDTH(PRC) phổ biến rộng rãi điều không vui này. Nhưng từ một quan điểm chiến lược, nó cũng kìm hãm các quốc gia châu Á khác, quan trọng nhất là Nhật.
Từ quan điểm của Trung Quốc, điều này rõ ràng là một mục tiêu chiến lược xác thực, giải thích chính xác vì sao các nhà chiến lược Trung Quốc trở nên nóng nảy mỗi lần có thảo luận về vai trò mới của người Nhật, cả khi dưới sự tiếp diễn trong khung đồng minh Mỹ Nhật. Trong chừng mực là giữ hải quân Mỹ "trong" Đông Á có nghĩa là đảm bảo cho quân đội Nhật không tăng vọt, sự hiện diện tiếp diễn của người Mỹ rõ ràng là được yêu thích hơn ở góc độ Bắc Kinh lo về sự trống vắng có thể xuất hiện do quy mô hiện diện của Mỹ ở đây bị giảm đi.
Thứ nhì, không có sự ổn định từ Mỹ ở khu vực đường biển Châu Á-Thái Bình dương, các quốc gia trong vùng bị lệ thuộc vào cung cấp hàng hóa chiến lược thông qua các tuyến trên sẽ buộc phải bước vào để lấp khoảng trống. Đặc biệt là Nhật Bản sẽ bị thúc ép nhiều để duy trì thế hoàn toàn bị tách biệt, một nhiệm vụ từ sự lệ thuộc vào việc cung cấp năng lượng chiến lược phải băng ngang qua vùng biển hiện đang được cho qua lại tự do, tránh khỏi mọi sự cạnh tranh địa phương nhờ vào hải quân Mỹ.
Dĩ nhiên, có những kiềm chế hết sức gắt gao không cho phép Nhật bản gây ra một sự kiện như vậy.[20] Nhưng một khi các thế lực trong vùng châu Á –Trung Quốc và Nhật– mất khả năng ăn theo quyền thống trị của Mỹ, nguy cơ xảy ra cạnh tranh sẽ rõ rệt tăng theo cấp số nhân. Với Trung Quốc, trong ngoại lệ, điều này sẽ tăng tốc nhu cầu xác lập sự hiện diện của hải quân trên biển khơi, trong lúc với Nhật và các nước khác, có thể sẽ phải tăng cường áp lực chiến lược để chọn giữa củng cố sự có mặt độc lập ngoài khơi để chống trả với Trung Quốc, hoặc –có vẻ thích hợp hơn– là liên kết với Trung Quốc như một đối tác chiến lược có giới hạn, phản ảnh việc liên minh kèm theo điều kiện mà các nhà lý luận về quan hệ quốc tế gọi là một "toa xe chở dàn nhạc đi diễu hành".
Về phía Hoa Kỳ, điều này đề ra những lựa chọn công bằng và thẳng thắn về chi phí và lợi nhuận trong việc duy trì quyền thống trị hải quân trong vùng Châu Á-TBD, ít nhất là trong trung hạn. Trên thực tế, những ai lo lắng nhất về sự phát triển lớn mạnh của Trung Quốc buộc phải nhìn nhận một sự mỉa mai rằng phương cách nhanh nhất để tăng tốc lại chính là cái lộ trình mà họ rất e ngại, đó là chiến lược cô lập nước CHNDTH.
Mọi nỗ lực nhằm dọa dẫm Trung Quốc thông qua sự đe dọa về cấm cửa các tuyến biển ngấm ngầm của Mỹ sẽ đặt giới cầm quyền Trung Quốc vào vị thế gần như không trụ được về mặt chiến lược. Chừng khi nào Trung Quốc có thể đảm bảo cho các nhu cầu kinh tế và tài nguyên của mình qua việc xua đi bá quyền thống trị đường biển của Mỹ, chừng ấy nhu cầu bức xúc đòi hỏi tăng tốc lộ trình xây dựng năng lực hiện thực sức mạnh riêng mình sẽ giảm bớt. Nhưng bất kỳ sự đe dọa nào đến nguồn cấp hàng chiến lược của Trung Quốc –không chỉ qua sự dọa dẫm của Mỹ, mà ngay cả một sự thoái bộ của Mỹ cũng cho phép Nhật Bản, Đại Hàn và số nước Asean trở nên quyết đoán hơn– sẽ trực tiếp là mối hăm dọa đến giao thương chiến lược của Trung Quốc về năng lượng và các tài nguyên khác
Phải nói chính xác là sự đảm bảo của Mỹ về quyền bình đẳng vãng lai trên mọi tuyến biển châu Á đã cho phép Trung Quốc hoàn thành các đòi hỏi về năng lượng chiến lược của mình qua việc tự do qua lại, ngược với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự. Một sự biểu lộ nhân từ trong quyền bá chủ của Mỹ – mở rộng SLOCs– cho phép các nước tự do qua lại, kể cả Trung Quốc, là khả dĩ. Nhưng nó hàm chứa một nghịch lý mỉa mai vào quan hệ Mỹ-Trung. "Những Con-te-nơ tân thời" nầy cần được chấp nhận , có lẽ là chiến lược tốt nhất trong đó cho phép Trung Quốc tăng tốc hướng đến mục tiêu tăng cường sức mạnh, chính là chấp nhận Trung Quốc tiếp tục ăn theo việc tăng cường vai trò của Mỹ trong khu vực. Tìm cách làm suy yếu tiến trình nầy của Trung Quốc qua việc hăm dọa hay cô lập chỉ có thể mang lại tác dụng ngược. Trớ trêu thay –ít nhất là xét đến sự giao thương năng lượng chiến lược qua ngã SLOCs của Asian– để đối đầu với Trung Quốc thì, trên thực tế, là kiềm chế sự khẩn trương đẩy nhanh hiện diện hải quân ở vùng nước sâu và thúc đẩy khả năng hình thành sức mạnh của họ . Điều này đòi hỏi nầy hàm ý đảm bảo chiến lược mở cho các tuyến đường biển ở Châu Á trong việc cung cấp hàng hóa chiến lược và đắp thịt lên xương trong "quan hệ đối tác chiến lược" Mỹ – Trung. Không có đảm bảo đáng tin cậy cho hiệu ứng này, việc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc sẽ trở thành một yêu cầu chiến lược cấp thiết. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể chỉ khoanh tay ngồi nghiềm ngẫm về khả năng bị tấn công chiến lược sẽ xảy ra khi nhu cầu các nguồn cung ứng năng lượng ngày càng gia tăng mà lại phải chở bằng tàu qua vùng biển bị hải quân Mỹ khống chế.
HIỆN ĐẠI HÓA KỸ THUẬT VÀ NĂNG LỰC QUÂN ĐỘI
Suy cho cùng, bàn về các lựa chọn của Trung Quốc ở mặt an ninh năng lượng, điều quan trọng là hiểu thấu được cấu trúc sức mạnh hiện thời của Trung Quốc cho phép họ làm được gì. Hiện đại hóa của Trung Quốc tập trung ưu tiên vào đâu ? Nước CHNDTH (PRC) hiện bận rộn vào một chương trình chủ yếu về hiện đại hóa kỹ thuật quốc phòng . Điều này bắt nguồn từ ba điểm quyết định chủ yếu. Đầu tiên, vào năm 1977 Trung Quốc chuyển trọng tâm thành tựu của mình từ vũ khí chiến lược sang vũ khí quy ước (1977) để cân bằng lại quy hoạch vũ lực sau hơn hai mươi năm hầu như bị ngự trị bởi lịch trình chạy đua vũ khí nguyên tử và các hệ thống bắn phóng chúng.[21] Quyết định này còn nhận thêm cú hích sau kinh nghiệm gay go của Trung Quốc trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979, khi mà những lỗ hổng gay gắt trong trang bị đã gây khó khăn cho các cuộc hành quân. Cuối cùng, vào năm 1985, chiến lược quân sự của Trung Quốc chuyển từ ưu thế hạt nhân tập trung vào "phủ đầu, tổng lực, hạt nhân" (zaoda, dada, da he zhanzheng) sang việc nhấn mạnh vào giới hạn xung đột quy ước dọc theo ngoại biên lãnh thổ, ngược lại việc hướng vào trong lục địa.[22]
Như kết quả đã thấy , đặc biệt phải kể đến là cuộc chuyển đổi chiến lược vào năm 1985, quy hoạch vũ trang của Trung Quốc từ cuối thập kỷ 70 đã tiếp diễn qua 3 thời kỳ chính: thứ nhất là tập trung vào lực lượng lục quân; thứ nhì là tập trung vào hiện đại hóa hải quân; và thứ ba, bắt đầu khoảng 1993, là tập trung chủ yếu vào không quân. Điểm tập trung cuối này bắt nguồn chủ yếu từ tầm quan trọng chiến lược trong vấn đề Đài Loan, nơi Trung Quốc sẽ cần thiết lập ưu thế trên bầu trời phòng khi bộc phát chiến tranh ở vùng eo biển.
Thảo luận mở rộng về năng lực hiện tại của Trung Quốc là vượt khỏi phạm vi bài này. Nhưng là quan trọng để đưa ra một tổng kết gói gọn về khả năng hải và không quân có thể ảnh hưởng đến khả năng của PRC đối với các tuyến vận tải biển cung cấp năng lượng chiến lược.
Hiện đại hóa hải quân đã được tập trung qua sự mở rộng chu vi phòng ngự của Trung Quốc từ vùng duyên hải (jinhai fangyu) đến vành đai lãnh hải (jinyang fangyu) kéo dài đến 400 hải lý, cũng như ở vùng biển Đông. Các lực lượng biển khơi (yuanyang haijun) rõ ràng đã có trong chương trình công tác của Trung Quốc, nhưng các qui mô đầu tư lực lượng cho thấy việc này chưa trở thành một khả năng nghiêm trọng cho đến khoảng giữa thế kỷ tới. Như Paul Godwin đã chỉ rõ, các chuyển đổi chiến lược này rất quan trọng vì nó giải thích sự tập trung vào các sứ mệnh chuyên biệt phát triển từ điều sửa đổi năm 1985 của chiến lược quân sự nhà nước Trung Quốc, ngay cả khi các năng lực để hình thành sức mạnh thực sự có được cải thiện rất ít. Hầu hết năng lực hải quân Trung Quốc vẫn còn hạn chế và khí tài lạc hậu, nhưng một quyết tâm thay đổi cao thì rõ ràng là có.[23]
Hiện đại hóa hải quân Trung Quốc tập trung vào các khả năng trên lẫn dưới mặt nước. Các cải tiến thuộc trên mặt nước, đặc biệt đối với các tàu thuộc lớp Luda (khu trục hạm) và Jianghu (tiểu khu trục), sẽ cho Trung Quốc những khả năng lớn hơn. Điều này đặc biệt đúng từ lúc các chương trình hiện đại hóa này –hầu hết dựa trên các thương vụ từ Pháp– được kèm theo các chương trình cải tiến khả năng tiếp vận tại chỗ, bao gồm các tàu cấp dầu, các tàu hàng, và trực thăng có khả năng tiếp vận cho căn cứ không quân.
Không quân Trung Quốc là một đau đầu lớn cho các nhà hoạch định quân sự. Bắt đầu với một loạt những cuộc tranh cãi về "phi đạn chống máy bay ném bom" vào năm 1956, những người đứng về phía không quân phải chiến đấu với một đội quân ganh tỵ. Tỷ như, toàn bộ các chiến đấu cơ J-6 mới vừa sản xuất (phi cơ siêu thanh đầu tiên của Trung Quốc, một bản sao của chiếc MiG-19 Xô Viết) phải nằm chết ở bãi từ giữa 1959 – 64 do lỗi bế tắc kỹ thuật.[24] Lực lượng không quân cũng bị ghè chân trong hoạt động chính trị tại Trung Quốc trong suốt cuộc Cách mạng Văn hóa, giới lãnh đạo Trung Quốc cả tin vào hành động lật đổ(đảo chính) ảm ảnh rằng phải cẩn thận với không quân hiện đại. Mãi cho đến gần đây, ngân sách của không quân và thắng lợi chính trị đều bị chết yểu, và chỉ từ khoảng 1993 không quân Trung Quốc mới nhận được sự quan tâm đúng mức.
Ngày nay, việc hiện đại hóa không quân là rất có ý nghĩa, nhưng nó không tương xứng với thay đổi chủ yếu trong khả năng sản xuất nội địa vốn bị xem thường từ những năm 1960 trở đi. Quan trọng hơn hết, Trung Quốc mua 24 chiến đấu cơ Su-27 và hai máy bay huấn luyện từ Nga. Các máy bay này đã gia nhập lực lượng không quân PLA vào năm 1995. Như Godwin đã nêu, đây là những phi cơ chiến thuật duy nhất của Trung Quốc có khả năng dẫn dắt các chiến dịch trên không ở vùng biển Đông. Tuy nhiên, điều này cũng sẽ cần dựa vào chiến lược nghĩa là có khả năng giám sát dễ dàng. Những chiến dịch như thế sẽ đòi hỏi là các phi cơ được đặt ở đảo Hải Nam ngoài bờ biển đông nam hoặc trên một căn cứ không quân trên quần đảo Hoàng Sa (Paracel), phía bắc của quần đảo Trường Sa (Spratly). Godwin còn nêu thêm, việc này sẽ đòi hỏi trước tiên một nỗ lực nới rộng căn cứ chính tại quần đảo Hoàng Sa (Paracels), cũng như mở rộng huấn luyện trên vùng biển khơi, dưới mọi thời tiết và các phi vụ bay đêm cho phi công Trung Quốc. Tất cả đều được kém huấn luyện về những kỹ năng này.
Tóm lại, Trung Quốc hiện đang sở hữu các khả năng hầu hết là không đồng bộ — thu hẹp sức mạnh quân sự với mục tiêu nhằm chống lại Mỹ và đồng minh đặc biệt yếu kém. Điều này chắc chắn là chưa kể đến khả năng hoạt động xa khỏi vùng duyên hải, mở hoặc đóng các tuyến đường biển, dẫn dắt chiến dịch không quân hay hải quân trên biển khơi, hoặc khiêu khích sự thống trị của hải quân Mỹ. Hơn nữa, các khả năng này bao gồm khả năng tên lửa của Trung Quốc ở tầm đạn đạo ngắn đến trung và hệ thống tên lửa hành trình.[25] Đánh giá các khả năng này cũng là vượt quá tầm bài luận này. Tuy nhiên, mặc dù tên lửa Trung Quốc tiếp tục có vấn đề về hệ thống dẫn đường và độ chính xác, không nghi ngờ nhiều gì ít nhất một vài tên lửa Trung Quốc có thể gây thiệt hại đáng kể đến vận tải biển về mặt thương mại và quân sự. Tuy nhiên, khả năng quân đội Mỹ đủ sức phản ứng tương đối nhanh đối với các mối đe dọa như thế.
Tóm lại, Trung Quốc đang ở khoảng 40 đến 45 năm cách biệt so với loại hiện đại hóa kỹ thuật toàn diện, xuyên suốt mà lực lượng không và hải quân của họ cần có để có thể trực tiếp khiêu khích sức mạnh của Mỹ hoặc hiện trạng trong vùng Châu Á-TBD. Bốn mươi đến bốn mươi lăm năm là một thời gian dài trong các mối quan hệ quốc tế. Đến năm 2030, liên doanh phát triển tài nguyên hoặc các hình thái khác của hợp tác an ninh năng lượng có thể trở nên hiện thực, đặc biệt là vùng biển Đông. Trong lúc này, thì, như đã nêu ở phần cuối, một sự sụt giảm khả năng của Mỹ trong vùng biển Thái Bình Dương có thể mở ra chỗ trống cho sự cạnh tranh về an ninh Trung Quốc / Nhật Bản nhằm lấp khoảng trống dường như còn nguy hiểm hơn nữa đối với sự ổn định của Châu Á hơn là một tiềm năng Trung Quốc khiêu khích đến hiện trạng. Trung Quốc có quá nhiều để mất từ việc khiêu khích quân đội Mỹ trên đường biển tự do đi lại. Họ có thể xua đuổi sự bảo vệ của Mỹ ở vùng biển trên một cách hiệu quả và ít tốn kém hơn nhiều. Như đã nêu, dù vậy, điều này mạnh dạn chỉ ra rằng với Hiệp Chủng Quốc và các hoạt động của họ –đặc biệt những nỗ lực trong kiểm soát sự cạnh tranh Trung- Nhật và cung ứng cho Trung Quốc nhiều đảm bảo chiến lược khác nhau– không có người Trung Quốc "hung hăng" nào sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự ổn định của trật tự ở Châu á.
TRỘN LẪN GANH ĐUA VÀ HỢP TÁC: CÁI MỚI VỀ KINH TẾ ĐỊA CHÍNH TRỊ
Mixing Rivalry With Cooperation: The New Economic Geopolitics
Các nhà phân tích tương lai năng lượng châu Á không được lầm lẫn việc Trung Quốc có những mối quan tâm chiến lược cụ thể về tuyến biển châu Á, cũng như sự phó thác chủ yếu chính sức mạnh quân sự của mình. Nhưng soi rọi về những giới hạn của Trung Quốc trong năng lực thực tế sức mạnh của bản thân, các mối quan tâm này có lẽ được đáp ứng tốt nhất, ít ra là cho một tương lai có thể dự đoán được, thông qua sự hợp tác và sự cộng tác chiến lược. Như đã nêu, điều này có nhiều lý do để lạc quan. Nhưng nó cũng cho thấy việc tại sao kiểu nói kích động về chiến lược ganh đua với Trung Quốc là không lành mạnh lẫn mất ổn định. Sau cùng, tranh luận như thế buộc các nhà chiến lược Trung Quốc đối diện với khả năng quyền lui tới vùng tài nguyên chiến lược của họ có thể bị mất. Điều này đặt các nhà lãnh đạo PRC vào thế không đứng vững được và thúc đẩy động thái nổ lực hiện thực sức mạnh và chiến lược bất hợp tác giống y kiểu đã châm dầu vào sự bi thảm thái quá về Mỹ trong phần đầu.
Trên hết, điều này cho thấy tại sao chiến tranh lạnh là một kiểu mẫu tồi cho quan hệ giữa các cường quốc. Sự ganh đua Mỹ – Xô Viết, sau cùng, là kiểu xung đột thuần túy, thuộc về lịch sử, điều này có gì đó không bình thường. Thường thì, các cường quốc trong lịch sử quốc tế đã trộn lẫn nhiều dạng khác nhau của sự hợp tác và ganh đua. Với tất cả thiếu sót về chiến lược rõ ràng, thứ bậc sau chiến tranh lạnh dường như được hình thành theo cách này, và câu hỏi về cung cấp năng lượng cho vùng Đông Á tạo ra điểm đột ngột thật sự. Mặc dù Hiệp Chủng Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước khác có thể có các mối quan tâm chiến lược cạnh tranh nhau, khoa địa chính trị kinh tế chỉ ra rằng các chi phí cho toàn bộ các bên ganh đua trên mặt cung cấp hàng hóa chiến lược bỏ xa các lợi ích của sự hợp tác. Trung Quốc có thể tấn công "bá quyền" của Mỹ, nhưng để xua đuổi sự bảo vệ của người Mỹ trên các tuyến đường biển nhằm thực hiện các mối quan tâm quốc gia chỉ có hiệu quả vượt xa nếu Trung Quốc phải tự mình đảm bảo các mối cung cấp này. Trung Quốc không thể làm thế với khả năng hạn chế hiện tại của mình. Nhưng điều đó có thể làm cho quan hệ quốc tế vùng Đông Á thành cực kỳ nguy hiểm và tốn kém cho hết thảy nếu các bên toan tính đóng lại quyền lui tới tự do của các nguồn tài nguyên. Sự hiện diện của Mỹ tại tuyến đường biển ở châu Á cũng là kiểm soát người Nhật tái vũ trang và cho Trung Quốc giảm chi phí trong khi tiếp cận các hàng hóa chiến lược cần thiết. Trong lúc đó, với Mỹ, chiến lược đảm bảo cho Trung Quốc là cần thiết để giữ cho Trung Quốc hài lòng với sự tiếp tục làm bá chủ của Mỹ trong vùng hải lộ, là cái giá nhỏ phải trả cho sự đảm bảo sự phục tùng vốn có của PRC đến những điều kiện tất yếu trong chiến lược cân đối hàng hải của Mỹ.
Cuối cùng, phân tích các vấn đề năng lượng này giải thích rõ tại sao sự sắp xếp chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc lại quan trọng đến thế. Nó cho thấy, đầu tiên là, các phân tích về an ninh năng lượng vùng Đông Á phải luôn cẩn trọng không chỉ về sự cường điệu các khả năng của Trung Quốc đồng thời cần nhận thức được rõ các xu hướng chiến lược từ những hành động có hạn chế nhất định của Trung Quốc trên vùng biển Đông. Thứ đến, không có gì để hoài nghi cạnh tranh Mỹ và Trung Quốc về quyền lợi trên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên có vài lối đi thoáng mở trong chương trình bảo vệ an ninh và kinh tế Chấu Á nơi mà sự hợp tác chẳng những là có thể mà sẽ là cần thiết. Không đặt quá nhiều kỳ vọng vào đó, các cường quốc có thể và cần phải trộn lẫn ganh đua với hợp tác. Với các vấn đề về thứ bậc hậu chiến tranh lạnh –địa chính trị kinh tế, toàn cầu hóa, thách thức về môi trường, và đại loại– có thể không làm suy yếu thực tế cạnh tranh nhau giữa các cường quốc, nhưng nó sẽ làm cho các mối liên hệ quốc tế càng thêm phức tạp. Các kiểu mẩu xung đột thuần túy theo lối chiến tranh lạnh có giá trị giới hạn trong suy nghĩ về tương lai của vùng Đông Á. Chúng ta phải cẩn trọng về việc sử dụng cặp kính mang quan niệm chiến tranh lạnh vào suy nghĩ về Trung Quốc, Hoa Kỳ, mối quan hệ của họ, và sự nổi cộm về một trật tự ở vùng Đông Á.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters