Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

27 thg 5, 2012

Một Entry trên Facebook - Đáng để đọc...


Ôi đau đớn thay, mỉa mai thay !

Một sinh viên Việt Nam đang lang thang ngắm cảnh ở Singapo, một sinh viên Singapo lên tiếng chào sinh viên Việt Nam:
- Chào anh bạn Việt Nam nghèo khó, và yếu đuối, tôi thấy thật là tội nghiệp cho dân tộc của anh.
Sinh viên Việt Nam liền lên tiếng:
- Anh bạn đừng có buông lời cao ngạo, dân tộc chúng tôi đã chiến thắng hai đế quốc lớn của thế kỷ 20 là đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc Việt Nam chúng tôi có quần chúngnhân dân anh hùng, không bao lâu nữa dân tộc Việt Nam chúng tôi sẽ sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Sinh viên Singapo liền hỏi:
- Anh bạn năm nay bao nhiêu tuổi?.
Sinh viên Việt Nam đáp:
- 20 tuổi .
Sinh viên Singapo tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Anh bạn mới 20 tuổi có nghĩa là anh bạn không hề tham gia hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, có nghĩa là hai cái Chiến Thắng vĩ đại mà anh bạn mới khoe không hề dính dáng gì đến anh bạn và những người trạc tuổi anh bạn, những người làm nên chiến thắng điện biên phủ có lẽ đã chết gần hết, những người đã đánh bại người Mỹ giờ đây có lẽ tóc đã bạc. Quần chúng anh hùng mà anh bạn nói đến giờ còn sót lại được bao nhiêu?. Tôi nghĩ chắc cũng chẳng còn nhiều.
Sinh viên Việt Nam gắt giọng :
- Việt Nam chúng tôi còn có thế hệ trẻ, những người trẻ tài năng của Việt Nam không thiếu, chúng tôi sẽ làm được cho dân tộc rất nhiều những điều hữu ích.
Sinh viên Singapo lại ồ lớn:
- Những người trẻ của Việt Nam ư?. Các anh có bằng thế hệ trẻ của Singapo không?. Thế hệ trẻ của Mỹ không?. Của Hàn Quốc không?. Của Trung Quốc không?. Tôi biết Việt Nam của anh có rất nhiều tài năng trẻ, nhưng rồi họ cũng sang đây để phục vụ cho đất nước của tôi mà thôi!. Họ cũng sang Mỹ, Anh, Pháp, Đức ..vv. Để phục vụ cho những quốc gia giàu có mà thôi!.
Sinh viên Việt Nam ngẩng người ra. Sinh viên Singapo lại tiếp tục:
- Thế hệ cha ông của chúng tôi đã từng rất ngưỡng mộ những thế hệ cha anh của các bạn và thế hệ trẻ của chúng tôi cũng vẫn còn ngưỡng mộ những người lính đã đánh bại hai đế quốc khủng lồ là Pháp và Mỹ. Còn thế hệ các bạn, có bao giờ các bạn ngưỡng mộ thế hệ cha ông của chúng tôi chưa?. Tôi chắc chắn là chưa!. Các bạn có bao giờ ngưỡng mộ nhân dân Mỹ chưa?. Chắc chắn cũng là chưa bao giờ!. Các bạn cứ mãi mê nhìn vào các lãnh đạo nên các bạn không chú ý đến những quần chúng nhân dân anh hùng. Người Singapo không nói “dân tộc chúng tôi nghèo”, mặc dù trước đây chúng tôi rất nghèo!. Người Nhật cũng không nói “dân tộc chúng tôi nghèo”, mặc dù sau chiến tranh thế giới họ cũng rấtnghèo!. Người Hàn Quốc không nói “dân tộc chúng tôi nghèo” cho dù sự thật là sau chiến tranh thế giới và trong suốt giai đoạn chiến tranh hai miền họ cũng rất nghèo. Thế mà lúc nào tôi cũng thấy các anh nói “dân tộc chúng tôi chiến thắng Pháp và Mỹ” cái chiến thắng của ngày xửa ngày xưa.
Nhìn sinh viên Việt Nam vẫn còn nghĩ ngợi, sinh viên Singapo lại tiếp tục:
- Phụ nữ Việt Nam thì đua nhau lấy chồng ngoại để đổi đời, Công nhân thì bỏ ra nước ngoài kiếm lấy việc làm trong khi chính đảng của nó đang nắm quyền thống trị ở Việt Nam, thế hệ trẻ thì cứ ba hoa về truyền thống vẻ vang của dân tộc, bọn lãnh đạo già khụ thì ra sức củng cố tước vị, những người có thật tài thì cảm thấy bị ruồng bỏ, những kẻ giỏi ca hát thì làm bí thư lãnh đạo, những người có đầu óc chính trị dân chủ thì bị quy là phản động, lạm phát gia tăng đời sống công nhân khó khăn mà chính phủ của nó vẫn nhỡn nhơ vẹn toàn. Miệng lưỡi thì tỏ vẻ đấu tranh nhưng chẳng thấy hành động, chê bai nước Mỹ đầy rẫy bất công để tỏ vẻ Việt Nam là một nước công bằng, chê bai bầu cử tư sản đầy rẫy gian lận và hỗn loạn để tỏ mình là lãnh đạo của một nước do dân làm chủ, lấy hiện tại để so với quá khứ, lấy quá khứ để suy tương lai làm ra vẻ ta đây cũng giỏi giang lắm.
- Đáng thương thay những thế hệ cha ông anh hùng lại sản sinh ra một thế hệ con cháu hèn nhát, một quốc gia quật cường không nhân nhượng giờ đây lại làm một miếng mồi béo bở cho các quốc gia giàu có. Vỗ ngực mà lớn tiếng rằng Trung Quốc không bao giờ dám đánh Việt Nam, chúng đâu có hay biết bao nhiêu km2 biển đã hiến cho Trung Quốc, bao nhiêuđất đã bị chúng chiếm, máu của ngư dân vô tội vẫn chảy giữa biển khơi, đảo kia vẫn chưa đòi được nay chúng lại tiếp tục lăm le.
- Hạnh phúc thay thanh niên Singapo đã kế thừa một quốc gia giàu có và dân chủ, chúng tôi chỉ việc tiếp tục giữ lấy ngôi thứ của quốc gia mình, còn thanh niên Việt Nam các bạn luôn hát bài “đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi rằng bạn đã làm gì cho tổquốc hôm nay” và con cháu của các bạn sẽ mãi tiếp tục bài hát đó.
- Khá khen thay cho thanh niên Việt Nam vẫn vỗ ngực tự hào ta đây tài giỏi!.

ĐVD

24 thg 5, 2012

Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam


Đoàn Quốc


Báo Thanh Niên đăng vào ngày 13 tháng 05 bài phỏng vấn với ông Ayumi Konishi hiện là giám đốc tại Việt Nam của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (Asian Development Bank hay gọi tắt là ADB)[1]. Theo ông này thì lợi tức đầu người tại Việt Nam hiện ở mức 1200 USD, có triển vọng tăng lên 2000 USD năm 2015 và 4000 USD năm 2020.
Đây là hai bước ngoặc vô cùng quan trọng cho mọi quốc gia đang mở mang. Thứ nhất, vượt qua ngưỡng 2000 USD là thoát khỏi cái bẩy của mức thu nhập trung bình (middle income trap)[2] vốn chận đứng nhiều nền kinh tế không tăng trưởng thêm được nửa. Thứ nhì, đạt đến 4000 USD đầu người là bắt đầu hội nhập toàn diện vào khối các quốc gia phát triển.

Người viết xin phân tích trước về điểm hai rồi sau đó trở lại điểm một. Dựa trên quá trình phát triển của nhiều nền kinh tế trong đó có cả Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore một nước khi đạt đến lợi tức bình quân 4000 USD thường chuyển đổi sang một nền dân chủ pháp trị vững vàng vào cùng mốc thời gian này. Có nhiều lý do được giải thích như sau:

·        Dưới mức thu nhập nói trên giới trung lưu còn đang ở giai đoạn thành hình nên chưa đủ sức giữ vai trò chủ chốt trong nước. Từ 4000 USD trở đi tầng lớp chuyên viên học vấn cao đủ đông và trưởng thành để trở thành khối năng lực chính trong xã hội.
·        Mức lợi tức này chỉ có thể đat đến khi mậu dịch với nước ngoài phát triễn cao độ, từ đó nhà nước và doanh nghiệp phải tôn trọng tác quyền cùng các luật lệ về hợp đồng, minh bạch trong chi thu và tổ chức quản trị khoa học.
·        Tiến trình nói trên ảnh hưởng lên lề lối sinh hoạt và ý thức của toàn xã hội. Xã hội dân sự thành hình qua các hội đoàn thương mại và tư nhân. Công dân đòi hỏi quyền sở hữu và đất đai được bảo đảm; giáo dục được nâng cấp; vệ sinh môi trường được tôn trọng; và quyền được chọn lựa đại diện nhằm bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình.

(Người viết xin lưu ý rằng đây là khoa học xã hội nên không thể có những quy luật chính xác như khoa học tự nhiên – nói một cách khác không có một con số nhất định 4000 USD khi vừa đạt đến thì mọi chuyện đều thay đổi! Cộng thêm đà lạm phát nên con số này có thể tăng lên 6000-7000 USD. Ngoài ra còn có những ngoại lệ như Ấn Độ vốn là nước dân chủ đông dân nhất thế giới nhưng lợi tức bình quân hiện chỉ khoảng 1300 USD.

Nhưng dù nhiều sai lệch các điểm nói trên vẫn đáng để lưu ý vì chúng vẽ ra một hướng phát triển hợp lý và khoa học, dựa trên bài học của các nước kể trong cả vùng Đông Á)

Trở lại điểm một ở phần trên đã có nhiều nước bắt đầu phát triển ngoạn mục nhưng rồi dừng lại không vượt qua được ngưỡng cửa thu nhập trung bình khoảng từ 2000-3000 USD. Lý do cho những bước tiến nhanh lúc ban đầu nhờ vào dân số trẻ, lương bổng thấp và tài nguyên dồi dào nên thu hút đầu tư nước ngoài. Nhưng từ đó họ không xây được nền tảng chính trị và luật pháp vững mạnh nên hệ thống nhà nước và lề lối sinh hoạt trong xã hội trở thành sức cản ngăn chặn các mục tiêu tăng trưởng kế tiếp.

Điều đáng nói là trong cả hai trường hợp có vượt qua được cái bẩy lợi tức bình quân hay không ảnh hưởng đến đa số quần chúng nhiều hơn là vào tầng lớp đặc quyền. Mức thu nhập của giới đặc quyền lúc nào cũng tăng, chỉ khác nơi các thành quả phát triển được chia đều cho mọi người hay tập trung vào một thiểu số như thường được đo lường bằng hệ số GINI[3]. Vì quyền lợi của nhóm đặc quyền không hẳn song hành với nguyện vọng của dân chúng nên các cải cách xã hội cũng không tất yếu đến từ thượng từng.

Như vậy lời nhận xét của viên Giám Đốc ADB tại Việt Nam rất đúng: tiềm năng đất nước còn nhiều nhưng tuỳ thuộc vào dân chúng và nhà nước Viêt Nam có thực hiện cải tổ thì mới phát triển lâu dài và thịnh vượng đồng đều cho mọi người.




[1] Vietnam to ‘grow up’ by 2020 - Báo Thanh Niên 13/05/2011

[2] ADB warns Asian countries of middle income trap – Xinhua news 04/05/2011

[3]Gini coefficient – Wikipedia

22 thg 5, 2012

BỐ CÁO CỦA ỦY BAN TRONG SẠCH NHÂN DÂN TOÀN QUỐC.


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC


BỐ CÁO CỦA ỦY BAN TRONG SẠCH NHÂN DÂN TOÀN QUỐC.

Căn cứ vào kết quả kiểm toán trung ương , thanh tra chính phủ , nay ủy ban ra bố cáo:

Sau thời gian  điều tra ủy ban trong sạch nhân dân toàn quốc đã kết luận :

1-Trong thời gian làm lãnh đạo chủ chốt tại công ty SÔNG ĐÀ anh : ĐINH LA GIÁNG .
Còn thiếu hóa đơn chứng từ để quyết toán với số tiền là 10.000 tỷ đồng.
bằng chữ : mười ngàn tỷ việt nam đồng.
2-Trong thời gian làm lãnh đạo chủ chốt của TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ QUỐC GIA .
anh : ĐINH LA GIÁNG
Còn thiếu hóa đơn chứng từ để quyết toán với số tiền là: 18.000 tỷ vnd bằng chữ : mười tám ngàn tỷ việt nam đông.

Nay khi ủy ban kiểm tra - anh GIÁNG không có mặt tại cơ quan làm việc .

ỦY BAN TRONG SẠCH NHÂN DÂN TOÀN QUỐC TRONG THẨM QUYỀN CỦA MÌNH RA BỐ CÁO TOÀN QUỐC NHỮNG ĐIỂM NHƯ SAU :

1-anh ĐINH LA GIÁNG ở đâu về trình diện trước ủy ban - tự giác làm lại hóa đơn chứng từ cho hợp lệ hai khoản kinh phí nêu trên.
2- ai phát hiện anh GIÁNG ở đâu xin gọi điên đến xy113 (xy là mã điên thoại của tỉnh đang gọi điện) . Mọi công dân có biểu hiện che dấu ,nâng đỡ xẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật của nhà nước pháp quyền.
3-Thời hạn cho anh GIÁNG tự giác là hết kỳ họp thứ 3 của quốc hội. 

ỦY BAN TRONG SẠCH NHÂN DÂN VIỆT NAM NAY RA BỐ CÁO.

CHỦ NHIỆM ỦY BAN
TRẦN ÁI QUỐC ĐÃ KÝ.
(và có cả dấu)


Bố cáo này do Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa nhặt được ở ngoài đường.
Và gửi cho KHX. 

21 thg 5, 2012

NHỤC


Thái Bá Tân


Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.
Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:
“Làm sao mà người ta trả lễ?”
“Vì con ông làm công an.”
“Công an thì sao mà trả lễ?”
“Ông đi mà hỏi người ta ấy.”
“Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”
“Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”
“Nhục!”
*
Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.
Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.
“Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.
“Vì sao?”
Anh ta im một lúc mới đáp:
“Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”
“Con ở đấy thật à?”
“Vâng.”
“Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”
“Bây giờ cần là người ta điều hết.”
“Thế con làm gì ở đấy?”
Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:
“Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn...”
Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:
“Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”
“Con thì không, vì chưa cần.”
“Còn nếu cần?”
Anh con không trả lời.
“Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?
“Có.”
“Có đánh ai không?”
“Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.
Ông định bảo “Con vừa nói có xô đẩy, tức là cũng một dạng đánh nhân dân”, nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Và ông bỏ vào phòng mình.
*
Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.
Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.
Láo! Nhục!
Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:
“Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”
Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.

Hà Nội, 6. 5. 2012    

20 thg 5, 2012

Mặt trận Biển Đông khi nào yên tĩnh?



Những khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử ít khi được dự đoán trước và dự đoán đúng. Điều này có hoàn toàn chính xác khi một động thái quân sự hay pháp lý có thể giúp các bên hạ nhiệt trong cuộc tranh chấp vốn đã tồn tại từ lâu?

Giữa lúc Trung Quốc và Philippines (PLP) đang vờn nhau tại vùng bãi đá ngầm Scarbrough, ngày 13/5 Mỹ đã điều tàu ngầm USS North Carolina, loại tàu ngầm tấn công hạng tối tân nhất vào cảng PLP. Chiếc tàu ngầm này được tuyên bố sẽ ở lại PLP đến 19/5 để tu bổ định kỳ. Theo các khẳng định từ phía Mỹ và PLP, sự hiện diện của chiếc tàu ngầm này không liên quan gì đến tranh chấp chủ quyền trên bãi cạn Scarborough giữa Bắc Kinh và Manila từ hơn tháng nay.

Họa phúc phải đâu một buổi

Gần đây, dư luận chứng kiến hàng loạt tuyên bố sắt máu của các tướng lĩnh TQ. Tướng La Viện, một chuyên gia hoạch định chính sách của Quân Giải phóng TQ coi việc PLP đối đầu với TQ như trứng chọi đá, TQ đủ sức chơi đến cùng, PLP thì ngược lại, chỉ hao tiền tốn của mà thôi. Tướng Trương Triệu Trung, Đại học Quốc phòng TQ còn đưa ra sáng kiến, dùng tàu cá chở thuốc nổ đánh chìm khu trục hạm tàng hình DDG-1000 hiện đại nhất của Mỹ.
Theo tướng Kiều Lương, Phó chủ nhiệm Ủy ban chính sách an ninh quốc gia TQ, tranh chấp trên Biển Đông là điều Bắc Kinh không thể né tránh. "Kháng nghị ngoại giao không ăn thua, dùng vũ lực lại là biện pháp cuối cùng". Tướng Kim Nhất Nam, Đại học Quốc phòng TQ cũng cảnh báo, nếu coi thái độ "kiềm chế chiến lược" của Bắc Kinh là "thời  cơ chiến lược" của Manila thì TQ cần có hành động cảnh cáo. Chỉ cần PLP "đi quá đà", thì không sưng đầu cũng mẻ trán.
Sự kiện tàu ngầm Mỹ cập neo tại vùng biển PLP lần này không phải là hiện tượng đơn nhất. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao PLP ngày 4/5 cho biết, viện trợ quân sự của Washington cho Manila trong năm 2012 sẽ lên tới 30 triệu usd, tức là tăng gấp ba lần so với các năm khác. Mỹ đồng thời cam kết sẽ cập nhật các thông tin liên quan đến vùng biển của Philippines, qua đó, giúp PLP tăng cường khả năng thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình.
Việc Mỹ tăng cường viện trợ quân sự đã được khẳng định trong chuyến viếng thăm Washington gần đây của Ngoại trưởng Alberto de Rosario và Bộ trưởng Quốc phòng Voltaire Gazmin. Trong chuyến đi này, Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng PLP đã hội đàm với Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta. Manila còn đề nghị Washington cung cấp tàu chiến, máy bay và hệ thống radar nhằm hiện đại hóa binh chủng hải quân PLP.
Ngư dân Philippines tại bãi Scarborough Shoal. Ảnh Reuters.

Vẫn theo đại diện Bộ Ngoại giao PLP, nguồn tài chính trong viện trợ quân sự có thể được dùng để mua các thiết bị quân sự mới hoặc bảo trì các thiết bị hiện có. Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đang tìm kiếm thêm các nguồn tài chính khác để giúp đỡ PLP. Năm ngoái, PLP đã đón nhận một tàu chiến lớp Hamilton của Mỹ. Trước đó, Washington đã giao một tàu tuần tra cho Manila. Việc chuyển giao các thiết bị kỹ thuật này diễn ra vào thời điểm Mỹ đang giảm ngân sách quốc phòng.
Dư luận thế giới, nhất là các nước trong khu vực, từ lâu từng bức xúc trước việc TQ tuyên bố có chủ quyền đối với gần 80% diện tích Biển Đông, bao gồm cả lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Trong những tháng qua, PLP liên tục bày tỏ lo ngại trước thái độ hung hăng, quyết đoán của TQ, tại những vùng biển mà PLP khẳng định thuộc chủ quyền của mình và ở những nơi đang có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh.          

Sự ngang phân về an ninh là giải pháp?

Với những tranh chấp lãnh thổ kéo dài, ít nhất bắt đầu từ năm 1965 như đã từng diễn ra ở bãi đá ngầm Scarborough này, sự bất ngờ bùng nổ gần đây giữa TQ và PLP được các nhà phân tích dự đoán, ngoài những chuyển dịch về địa-chính trị trong khu vực, còn liên quan đến tình hình nội trị trong mỗi nước. Mặt trái của việc kích động chủ nghĩa dân tộc ở mỗi nước đã khiến cho các nhà ngoại giao lúng túng trong lựa chọn chính sách với những điều kiện hiện nay.
TQ thể hiện lập trường cứng rắn đúng vào thời điểm đang có bê bối chính trị liên quan cựu Bí thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Giới quan sát cũng cho rằng thông qua chủ đề biển đảo, Đảng Cộng sản TQ đang muốn chứng tỏ rằng nội bộ đảng vẫn đoàn kết và đủ sức mạnh bảo vệ lãnh thổ cho dù đang có nhiều đồn đoán trước kỳ Đại hội cuối năm nay. Các nhân vật đang nhắm những vị trí lãnh đạo cấp cao nhất cũng đang muốn chứng tỏ tinh thần dân tộc và liên hệ với phe quân đội.
Trong khi đó, PLP cũng đang cảm thấy hiện nay là thời điểm có thể tỏ thái độ cương quyết hơn đối với TQ, nhờ vào chính sách "chuyển trục sang châu Á" của chính quyền Obama, và PLP tin rằng, Mỹ sẽ hỗ trợ PLP trong trường hợp cần thiết. PLP trù liệu rằng, nếu Bắc Kinh hung hăng quá mức thì các nước khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines sẽ xích lại gần nhau hơn, cũng như sẵn sàng hơn trong việc nâng cấp quan hệ với Mỹ để làm đối trọng.
Sự đối đầu giữa TQ và PLP trên Biển Đông cũng không diễn ra một mình. Hàng loạt các sự kiện liên đới như diễn tập quân sự chung Mỹ - PLP, giao lưu hải quân Mỹ -  Việt, tái khẳng định đồng minh quân sự Mỹ - Nhật, Mỹ điều quân đến Ốtxtrâylia, tàu sân bay đầu tiên của TQ đã nhiều lần thử ra khơi, cuộc thử nghiệm máy bay chiến đấu tàng hình J-20 của TQ... cho thấy ván bài an ninh Mỹ - Trung nói riêng và giữa các nước lớn nói chung đang đứng trước khúc quanh quan trọng.
Luật quốc tế, trong đó có cả Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) lẫn Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đều không đươc cả TQ, Mỹ và PLP công nhận một cách chính thức. Tuy nhiên, tổng thống PLP Aquino, trong một động thái được coi là để kiềm chế căng thẳng, đã tuyên bố: "Lúc này chúng tôi không muốn làm gia tăng căng thẳng. Những gì Manila đang làm là chuẩn bị các hồ sơ và đưa vấn đề ra trước tòa án ITLOS.
Có thể PLP hy vọng, thời gian tới đây, Mỹ sẽ nhanh chóng phê chuẩn UNCLOS, từng được tranh luận lâu nay trong nội bộ nước Mỹ, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia của Mỹ ở khu vực CÁ-TBD. Nếu điều này chưa xẩy ra thì việc PLP yêu cầu sự trợ giúp quân sự của Mỹ đối với bãi đá ngầm Scarbrough sẽ thiếu cơ sở pháp lý vững chắc. Tuy nhiên, PLP cho biết nước này sẽ đơn phương và liên tục đề xuất lên ITLOS, bất luận TQ từ chối tham dự phiên tòa.
Cuộc tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila đến nay vẫn đang dừng ở mức khẩu chiến. Dù có thêm sự "khua chiêng gõ trống" từ truyền thông, dư luận vẫn mong đợi là tình hình không xấu thêm. Biển Đông chỉ có thể yên tĩnh khi tất cả các bên chấp nhận sự thượng tôn luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS và ITLOS. Ngoài ra, một sự cân bằng tương đối về an ninh, mà việc xuất hiện chiếc tàu ngầm của Mỹ có thể là biểu tượng hoặc ngẫu nhiên, chưa hẳn đã là giải pháp cuối cùng.

Hải Đăng


19 thg 5, 2012

Vụ Thủy điện Sông Tranh: Bảo đập Sông Tranh 2 an toàn là... rất lạ!



 GS. TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi với tư cách là chuyên gia độc lập lại nói: Tôi có thể khẳng định đập Sông Tranh 2 không an toàn. Nước chảy ầm ầm như vậy mà bảo an toàn tôi thấy rất lạ!



 

Sáng 18/5, đoàn công tác của Vụ khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội đã có cuộc kiểm tra sự cố tại hồ chứa nước đập thuỷ điện Sông Tranh 2, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam…
Đoàn công tác của Quốc hội do ông Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường dẫn đầu đã cùng lãnh đạo các bộ ngành liên quan và các nhà khoa học khảo sát, tiến hành giám sát công trình thuỷ điện Sông Tranh 2. 
 

Những vết trám trét bằng xi măng ở trên bề mặt đập thượng lưu hồ chứa Sông Tranh 2.

Báo cáo với đoàn giám sát, đại diện EVN vẫn khẳng định đập Sông Tranh 2 an toàn. Mặc dù, nước vẫn tuôn chảy phía hạ lưu thân đập chính.

Các thành viên trong đoàn giám sát cho biết, nước trên hồ chứa đập Sông Tranh 2 đã rút xuống cao trình 156,8 m. Nghĩa là lượng nước trên lòng hồ giảm gần đến mực nước chết. Thế nhưng tại các khe nứt trên thân đập vẫn còn nhiều điểm chảy nước thành dòng.

Ông Phan Xuân Dũng yêu cầu các cơ quan chức năng và chủ đầu tư giải trình những bất cập cũng như sự cố nứt thấm. Đoàn giám sát cũng đã yêu cầu làm rõ qui chuẩn trong quá trình thi công thuỷ điện Sông Tranh 2, nhất là việc thi công đập bằng công nghệ đầm lăn.

Đặc biệt, đoàn giám sát đã yêu cầu đánh giá tuổi thọ của công trình sau khi khắc phục sự cố. Vấn đề đặt ra hiện nay là do biến đổi khí hậu, có thể sẽ sinh lũ bất thường. Vậy phương án xử lý để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đập chính Sông Tranh 2, tránh thiệt hại cho vùng hạ lưu là gì?

Nước vẫn tuôn chảy từ thân đập chính ở bề mặt hạ lưu đập Sông Tranh 2.

Đoàn giám sát cũng kiến nghị cần có đánh giá tổng thể về sự cố đập Sông Tranh 2 như chất lượng bê tông, sự cố nứt, chảy do nguyên nhân nào? Chủ đầu tư cần minh bạch hoá thông tin về sự cố để giúp an dân.

Ông Võ Tuấn Nhân, Phó Chủ nhiệm UB Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội cho rằng cần thiết thành lập đoàn chuyên gia độc lập để xác định có hay không việc có vết nứt trong thân đập.

'Cần phải có luận chứng khoa học để khẳng định đập Sông Tranh 2 an toàn hay không an toàn!' - ông Nhân yêu cầu.
Trong khi đó, ông Trần Việt Hùng, Phó Chủ tịch liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đặt câu hỏi: Khi xảy ra sự cố đập, tại sao chủ đầu tư không tìm ra nguyên nhân mà vội vã xử lý?
Với tư cách là chuyên gia về thuỷ lợi, GS Nguyễn Thế Hùng (ĐH Bách khoa Đà Nẵng, thành viên đoàn giám sát) cho rằng, vấn đề thiết kế đập Sông Tranh 2 có vấn đề, chưa hợp lý. Cần phải có nghiên cứu đầy đủ về thiết kế, thi công để đánh giá một cách toàn diện về sự cố nứt đập chảy nước.
GS. TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thuỷ lợi với tư cách là chuyên gia độc lập lại nói: Tôi có thể khẳng định đập Sông Tranh 2 không an toàn. Nước chảy ầm ầm như vậy mà bảo an toàn tôi thấy rất lạ!
Từ đó, ông Hồng yêu cầu cần phải đánh giá một cách toàn diện và mời chuyên gia nước ngoài đánh giá tổng thể tuổi thọ của công trình. Trước mắt, cần phải có các phương án, trong đó phương án di chuyển dân để đề phòng sự cố là vô cùng cần thiết hiện nay.

Vũ Trung

18 thg 5, 2012

Vụ bán trụ sở Bộ GTVT: Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa viết cho Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng


VÀI LỜI CUỐI CÙNG VỚI ÔNG BỘ TRƯỞNG ĐINH LA THĂNG.
 
Thật ra là tôi rất bận- tưởng đã "rứt lòng" với ông được rồi ,sau những bài viết vừa cổ vũ , thán phục,rồi đến nghi ngờ cuối cùng là THẤT VỌNG về ông.
Lẽ đương nhiên thôi - tuổi thơ lặp lại -nhầm hình ảnh con "kỳ lân " trong những hội hè và hình ảnh con 
sư tử thật - rất buồn !.
Thế mà cuối cùng tôi vẫn phải viết cho ông những dòng này khi nghe tin ông phải bán cả trụ sở làm việc để lấy tiền phục vụ cho "sự nghiệp giao thông " của mình - một con người tâm huyết !.
Thưa ông! tôi không dám chắc là các bài viết của tôi đã được ông đọc vậy mong ông hãy sai thư ký truyền đạt lại cho ông - ông xẽ thấy tôi đã biết được "tình cảnh" của ông lúc nàytừ rất lâu rồi.
 những "sáng kiến có tính đột phá -có tính chiến lược " của ông trong ngành giao thông vận tải (gtvt) đã được thực tế trả lời - đây là "thực tế khách quan - không có lực lượng thù địch nào hại ông" cả. Sao ông không dám tổng kết thành tích đạt được sau từng "sáng kiến"ấy ?.
Này ! sao ông dỗi dãi thế ? ông đi HOÀNG SA làm gì ?biển thì rộng mênh mông - lại không có đèn xanh đèn đỏ  -làm sao tắc đường được ? - đường ra đấy chỉ sợ tắc do "tàu nước lạ" thôi.Mà tắc do "tàu nước lạ" thì ông làm gì phải chịu trách nhiệm ?.
Trong khi đó HÀ NỘI đang" khốn nạn "về gt .Sài gòn đang đợi ông về để tổng kết" thắng lợi" của"phân làn" - vậy mà ông vẫn bình tĩnh ôm gi ta để "cuộc đời là một khúc quân hành" quân hành của ông đi đâu đấy?.
 
Thật lòng mà nói tôi đã hiểu ông rồi ! vấn đề ở đây không phải là tài năng ,nhiệt huyết ,lòng yêu tổ quốc ..v..v... 
MÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA ÔNG LÀ : TIỀN- TIỀN -TIỀN và TIỀN !.
Thưa ông lần nữa ! tôi rất biết khi ông nhậm chức thì người "tiền nhiệm" của ông đã "nhẳm" hết ngân sách của chính phủ (dân) giao cho bộ giao thông vận tải năm 2012 thế nhưng sao hôm trình bày trực tuyến trước thường vụ quốc hội ông không đứng dậy nói  thẳng ra ?.Như thế này này :
-Cái thằng đi trước ăn hết sạch gạo rồi-nó quẳng cho tôi cái niêu đất không với vài que diêm - tôi lấy cái đếch gì ra nuôi lính mà làm việc ?.
Tiếp nữa là:
-Tôi không chia lợi nhuận với TKV vậy tôi không phải chi tiền làm dường chởquặng cho nó-nó nợ tôi bao nhiêu phải trả tôi để tôi làm đường cho dân đi.
Tiếp:
-Có thằng (doanh nghiệp) nó tặng "BỘ" tôi cái xe 3 tỷ đây này .Quốc hội nhờ công an rà soát lại các dự án người tiền nhiệm đã ký với nó xem nó có bị thần kinh không- để tôi còn có thể ký tiếp với nó.
Tiếp:
-5 tỷ usd trong vụ VNASHIN là tiền  thuế của dân đóng góp cho gtvt . Vụ này không phát hiện ra tham nhũng .Vậy tiền vẫn còn ( nằm ở đâu đó) nhờ quốc hội tìm lại hộ để chi cho hạ (thượng) tầng cơ sở giao thông - không bộ giao thông vận tải xẽ mang tiếng với dân với nước.
-Thịt chó thì phải có mắm tôm - thịt bò phải có cần tây và gừng .Không ai cho mắm tôm vào nấu với thịt bò.Vâỵ mặt cầu THĂNG LONG phải bóc ra làm lại - không sửa chữa nữa mất thời gian và tốn kém . Ai ký quyết định kỹ thuật lai căng này phải bồi thường toàn bộ chi phí.( ở đây không dùng "kiểm điểm nghiêm khắc").
......      ......    ........

Lại thưa ông ! tôi sắp viết một bài dài về gtvt chỉ là suy nghĩ và đóng góp của tôi thôi .Nhưng chẳng phải để nói với ông - ông thì biết quái gì về gtvt ?-ngay cả bây giờ tôi còn chẳng biết ông học trường nào ra .Trông ảnh thì biết ông có biết "bật bông"- cũng đã đọc bản nhạc ,lời của ông trong "người đi tìm lửa " .Vì không am hiểu âm nhạc tôi chỉ dám nói thế này :
so với cụ VĂN CAO hay bác PHAN HUỲNH ĐIỂU - thì thực sự ĐINH LA THĂNG  ở trường phái khác.

À ! mà cái thư tôi gửi cho ông cách đây 6 tháng sao ông không trả lời cùng gửi cho ông tôi gửi cho cả TRẦN ĐẠI QUANG bộ trưởng bộ công an .Hắn trả lời tôi rồi còn ông thì không ?.Không xong đâu nhé ! hãy xem :GOOGLE :"DON KHIEU NAI VE HANH VI THIEU TRACH NHIEM CUA THANH VIEN CHINH PHU".

Tôi rất buồn phải viết bài này - nhưng đó là tại ông.
Ông nên tham khảo ý kiến của các bậc tiền nhân (ở trên các báo cánh phải) trước khi quyết định bán nhà.(vì đây không phải nhà của ông đâu).
Mong ông hiểu rằng CẦN TIỀN khác với THÈM TIỀN.
Cho tôi gửi lời hỏi thăm KHƯƠNG KIM TẠO và CHU MẠNH HÙNG đều là đệ của anh - tôi sắp viết về họ.
Cũng mong dân tộc này đừng có bộ trưởng nào như ông nữa.
Chúc ông khỏe.
Đây là những lời cuối cùng viết đến ông.

kĩ sư
vi toàn nghĩa.
0982269462.

17 thg 5, 2012

Chuyện ngày Cải Cách Ruộng Đất




P. Vũ (Bạn đọc Danlambao) - Tôi gửi cho DLB câu chuyện có thật 100%. Đây là câu chuyện trong cải cách ruộng đất ở quê tôi. Nay tôi đã già rồi, nếu không viết lại được thì e rằng câu chuyện này tôi sẽ mang về cõi âm mãi mãi. Chuyện là thế này:

Đầu năm 1955 đội cải cách về quê tôi, lúc đó tôi hơn 10 tuổi và cũng đủ trí khôn để nhận biết và ghi nhớ mọi chuyện. Không khí trong làng thay đổi hẳn, chỗ hân hoan bàn tán, chỗ thầm thì xem như có việc cơ mật. Một khi đội cải cách về là phải có địa chủ, phải có đấu tố. 

Nhưng làng tôi nghèo lắm, nhà giàu nhất là ông Bá Tánh cũng chỉ có hơn hai mẫu ruộng và đôi trâu cày. Vậy ông phải là địa chủ. Ông có chức Bá trước tên Tánh từ hồi nào tôi không biết, chỉ biết ông chẳng làm việc làng việc xã, chỉ thấy ông cày cấy quanh năm. Ông vốn sức vóc hơn người, công việc đồng áng ông làm hết, bà vợ ông đau ốm quanh năm, chỉ lo được việc cơm nước gà lợn trong nhà. 

Ông bà có hai người con, anh con trai cả đoản số mất sớm, cô vợ bỏ đi lấy chồng để lại thằng con cho ông bà nuôi khi nó còn nhỏ. Năm ấy nó đã 13-14 gì đấy. Người con gái thứ lấy chồng xa thỉnh thoảng mới ghé về thăm. Thằng cháu nội mồ côi ông nuôi tên Dánh tí bởi bố nó là Dánh nhớn, nó chăn trâu cho ông. Trong đám trẻ trâu tụi tôi nó lớn hơn cả, nó là thủ lĩnh cả nhóm và cũng là thằng đầu bầy ra mọi trò. 

Đội cải cách họp bàn với cốt cán trong thôn đưa ông Bá và mấy người nữa ra đấu tố, nhưng cần phải tìm được người nào bị ông bóc để đấu tố ông. Khổ nỗi ông không thuê người ở, hai vụ cấy gặt người làm thuê từ nơi khác đến, hết mùa họ nhậy tiền công rồi đi. Những người khác trong làng ông toàn giúp họ bởi ông có đôi trâu khỏe, ông cho họ mượn trâu đổi lại người ta cấy gặt trả công. Vì vậy chẳng ai nhận đứng ra đấu tố ông. Chỉ còn thằng Dánh tí cháu ông, nó chăn trâu cho ông từ nhỏ đích thị nó bị ông bóc lột. Đội cải cách tìm nó biểu nó ra đình, chẳng biết dạy bảo dụ dỗ nó thế nào nó đồng ý đấu tố ông nội nó. 

Từ hôm nó được đội cải cách dạy bảo nó khoe với bọn trẻ trâu chúng tôi: "Từ nay tao là ông nông dân, người giàu trong làng phải gọi tao là ông xưng con, oách không". Tụi trẻ bọn tôi chỉ biết nhìn nó tròn mắt phục lăn. 

Hôm làng tôi đấu tố địa chủ, từ chiều du kích đi loa khắp làng thông báo cho dân làng tối ra đình dự buổi đấu tố. Tối tháng giêng rét căm căm lại thêm mưa phùn, mọi người co rúm lại vì rét. Trên bàn chủ tọa là đội cải cách hai bên có du kích cầm súng oai vệ. Ông Bá bị bắt giam sau đình mấy hôm nay. Du kích dẫn ông ra trước sân đình, ông bị trói, trên người ông bộ quần áo nâu bạc còn nấm bùn đất. Trông dáng ông mệt mỏi, ông đứng cúi đầu trước sân đình. 

Thằng Dánh tí cháu ông được được đội cải cách huấn thị mấy hôm nay, nó bước ra. Ông Bá sững người không ngờ kẻ đấu tố mình lại là thằng cháu nội mồ côi của ông. Từ hôm ông bị bắt giam, ông không biết gì bên ngoài. Bà vợ hàng ngày lê cái chân đau mang cơm cho ông nhưng du kích không cho gặp, họ lấy cơm cho chó ăn thử, chó không chết thì ông mới được ăn, họ sợ ông bị thủ tiêu! 

Thằng Dánh tí đến trước ông Bá chỉ tay vào mặt ông dõng dạc nói: "Bá Tánh, mày biết tao là ai không?". Ông Bá chết lặng người, nếu ở nhà thì tội này ông phải đánh cả chục roi. Nhưng bây giờ ông là địa chủ đang bị các ông bà bần cố nông đấu tố. Ông không nhìn thằng cháu mà nhìn về phía bàn đội cải cách, ông dõng dạc nói: “Thưa ông con biết ạ, ông là ông Dánh tí con ông Dánh nhớn, mà ông Dánh nhớn là con của con ạ." Cả sân đình bỗng ồ lên cười nghiêng ngả, thằng Dánh tí chẳng biết làm sao đứng đực mặt ra đấy, nó quên hết những gì mà đội cải cách dạy nó mấy hôm nay. Dưới sân đình mọi người vẫn cười, đội cải cách bảo mấy du kích đi dẹp trật tự. 

Sau câu trả lời của ông Bá, thằng Dánh tí không biết nói gì nữa du kích đưa nó ra ngoài cho nó mấy cái bạt tai. Trong sân ông Bá quì xuống, ông gào lên thảm thiết: "trời ơi thế này là thế nào, trên còn trời dưới còn đất nữa không!". Cả sân đình im phăng phắc, hai du kích chạy vào lôi ông ra đánh ông mấy báng súng vào lưng rồi giam lại ông vào sau đình. Đội cải cách đưa người tiếp theo ra đấu tố. 

Hôm sau người ta thả ông ra vì không ai mang cơm cho ông. Bà vợ ông nghe tin thằng cháu đấu tố ông thì lăn ra ốm liệt giường. Ông Bá về nhà cũng nằm liệt giường hai ngày, chỉ đến khi đôi trâu bị bỏ đói phá chuồng ầm ầm ông mới tỉnh. Thì ra sau đêm đấu tố ông, thằng Dánh tí cháu ông không dám về nhà, nó không chăn trâu nữa. Lúc đầu ông giận thằng cháu lắm, nhưng nó bỏ đi rồi ông mới thấy thương thằng cháu vô cùng. Nó dại dột nghe theo bọn người vô luân làm việc vô luân thường đạo lí đấu tố ông chứ lỗi đâu tại nó. Ông đi tìm nó khắp nơi nhưng không thấy, ông tự nhủ nếu tìm thấy ông bảo nó về chứ không đánh. Tìm mãi mà không thấy nó đâu, nghe người làng bên bảo nó theo người công giáo di cư vào nam. Ông vẫn mong có ngày cháu ông trở về cho đến khi ông mất. 

Sau ngày đất nước thống nhất, người di cư về thăm lại quê, họ bảo thằng Dánh di cư đi nam rồi sau đăng lính, chết trận ở đâu đó. 

Câu chuyện là như vậy, tôi giữ mãi trong lòng, nay gửi cho DLB, bạn thấy cần chỉnh sửa gì thêm thì chỉnh sửa rồi đăng trên blog của mình. Tôi không phải là nhà văn, câu cú lủng củng mong bạn thông cảm sửa giúp, cảm ơn bạn nhiều.


P. Vũ
 Nguồn: Dân Làm Báo 

Ngang nhiên thâu tóm biển Đông



 Mới đây, Cục Ngư chính Trung Quốc công bố việc thi hành lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông từ ngày 16.5 - 1.8.2012. Như vậy, một lần nữa, Trung Quốc lại có hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam và khiến tình hình biển Đông thêm bất ổn.
Đây là minh chứng rõ ràng nhất về sự bất nhất giữa lời nói và hành động của Bắc Kinh trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông.
Thời gian qua, Trung Quốc vẫn thường xuyên lên tiếng kêu gọi đối thoại, sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp trên biển Đông. Đồng thời, nước này cũng tham gia ký kết Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) lẫn Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Thế nhưng, trong thực tế, Trung Quốc lại có nhiều hành động đi ngược lại những tuyên bố trên. Cụ thể hơn, Bắc Kinh đang đơn phương thực hiện ý đồ thâu tóm tất cả các nguồn lợi tại khu vực này.
Hàng loạt tàu ngư chính và hải giám Trung Quốc quần thảo trên khắp biển Đông, sẵn sàng bắt bớ những ngư dân Việt Nam đang đánh bắt hợp pháp trên vùng biển thuộc chủ quyền nước ta. Lực lượng tàu ngư chính và hải giám đang được tăng lên cả về số lượng lẫn trang bị. Tiếp đến, Bắc Kinh tự cho mình quyền được ban hành luật pháp trên vùng biển này. Bằng chứng là chính quyền Trung Quốc đơn phương quy định thời điểm nào được phép đánh bắt. Không riêng gì nguồn lợi thủy sản, Bắc Kinh cũng muốn độc quyền khai thác tài nguyên dầu khí trên biển Đông. Gần đây, Trung Quốc ngang nhiên yêu cầu Ấn Độ đình chỉ hợp tác khai thác dầu khí cùng Việt Nam tại khu vực này. Thực tế, quan hệ hợp tác của Việt Nam với Ấn Độ hoàn toàn hợp pháp. Trong khi đó, Trung Quốc lại liên tục đưa các tàu thăm dò, giàn khoan hiện đại đến biển Đông. 
Các dẫn chứng trên cho thấy khó có việc Trung Quốc sẽ tuân thủ những quy định, ứng xử mà quốc tế đặt ra về tranh chấp trên biển Đông. Ngoài ra, nước này cũng liên tục từ chối đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế. Vì thế, nếu chúng ta chỉ vận dụng các biện pháp phản đối trực tiếp đối với Trung Quốc thì xem như đúng ý nước này khi Bắc Kinh đang muốn xử lý song phương.
Chính vì vậy, Việt Nam cần chủ động hơn nữa để tranh chấp trên biển Đông được phân xử công bằng bởi thế giới. Theo đó, chúng ta cần lập tức kiến nghị phản đối và yêu cầu Liên Hiệp Quốc xử lý những hành vi của Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền Việt Nam, chứ không dừng lại ở phản kháng song phương. Trong từng trường hợp, chúng ta cũng đưa ra những yêu cầu bồi thường cụ thể mà Trung Quốc phải đáp ứng. Tất cả những nỗ lực đó nhằm khiến thế giới hiểu rõ hơn về những hành động sai trái mà Bắc Kinh gây ra. Về lâu dài, những kiến nghị, yêu cầu như thế sẽ tạo thành một chuỗi ràng buộc pháp lý đối với Trung Quốc trong những hành vi trên biển Đông.

Ngô Minh Trí

16 thg 5, 2012

Đừng quá 'tự sướng' về phẩm chất người Việt



Chúng ta vẫn thường được nghe trên báo đài về các phẩm chất của người Việt như: cần cù chịu khó, có tố chất thông minh và sáng tạo, thân thiện và mến khách... Nhưng sự thật có phải như thế hay chúng ta đang tự huyễn hoặc mình bằng những điều hoa mỹ?

Những nhận định đánh giá này có khi là xuất phát từ chủ quan của người Việt mình, khi thì được trích dẫn từ góc nhìn của một người bạn nước ngoài nào đó. Chưa biết điều đó có thật sự đúng và khách quan hay không nhưng đôi lúc cũng làm cho tôi (và có lẽ cũng rất nhiều người khác) cảm thấy rất tự hào.

Tôi chưa có dịp đi ra nước ngoài để có thể có một sự trải nghiệm hoặc so sánh với người dân các nước khác xem thử dân mình có thật sự nổi bật hơn với những đức tính nói trên hay không.

Thế nhưng với những cảm nhận những gì đang xảy ra trong cuộc sống, cùng với những câu chuyện từ trên báo chí và của những người quen biết từng sống ở nhiều nước trên thế giới tôi chợt giật mình tự hỏi những gì lâu nay mình vẫn tự hào có phải là một sự huyễn hoặc hay ít ra đó là những đánh giá vội vàng, khiên cưỡng.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng tính cần cù chịu khó: nếu chịu khó lang thang trong các quán cà phê có mặt ở khắp nơi từ phố xá cho đến thôn quê ta không khỏi ngỡ ngàng bởi có vô số người đủ mọi thành phần, lứa tuổi đang rất nhàn rỗi bên những ly cà phê (hoặc nước giải khát) bất kể là nắng hay là mưa, trong giờ hành chính hay ngoài giờ, ngày nghỉ hay ngày làm việc.

Trong số đó có rất ít người đến để bàn công việc mà chủ yếu họ đến để “giết” thời gian. Mà nào đâu chỉ có quán cà phê, ở các quán nhậu, quán bi-a cũng có những cảnh tượng tương tự. Hoặc có điều kiện thâm nhập vào các công sở hẳn sẽ không khó khăn lắm để mục sở thị không khí là việc uể oải, “câu giờ” của nhiều công chức nhà nước...Lúc đó chắc hẳn mọi người sẽ tự hỏi cái chất cần cù, siêng năng, chịu khó đang thật sự ở mức nào?

Còn với đức tính thông minh, sáng tạo thì chúng ta phải đặt vấn đề là có bao nhiêu phát minh khoa học, bao nhiêu giải pháp công nghệ của người Việt được thế giới công nhận? Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục… có bao nhiêu phần trăm hàm lượng công nghệ mang nhãn hiệu made in Việt Nam?

Khó có câu trả lời thật chính xác nhưng ta có thể nói ngay rằng những thành quả đó là rất ít, thậm chí là không đáng kể. Thật đáng buồn hơn khi hiện tại chúng ta hầu như chưa làm chủ được các kỹ thuật công nghệ nguồn .

Sự thân thiện và hiếu khách của người Việt thì sao? Thật sự thì cũng khó đồng tình khi chúng ta thường xuyên nghe sự ta thán của không ít của du khách nước ngoài, các đối tác làm ăn kể cả các Việt kiều về việc các nhân viên hải quan, tiếp viên hàng không Việt Nam - những người được coi là tiếp tân của quốc gia, sao thường xuyên thiếu vắng nụ cười .

Cũng tương tự khi đến các công sở nhà nước, các bệnh viện, trên xe buýt… chúng ta cũng hiếm khi nhận được sự niềm nở ân cần. Rồi thì nạn chặt chém du khách, nạn chèo kéo, bu bám du khách ở rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên cả nước đã chứng minh điều ngược lại cho nhận định về sự thân thiện và hiếu khách.

Chưa kể một số mặt khác như kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác làm việc theo nhóm, ý thức cộng đồng, tính cầu thị và khả năng học hỏi của người Việt mình cũng không được đánh giá cao.

Nói như thế tôi không có ý định phủ nhận cũng như đánh giá thấp tất cả những đức tính tốt đẹp của tất cả người Việt mình, cũng không phải là một cách nhìn tự ti. Ở đâu đó và ở những thời điểm nào đó cũng có không ít con dân đất Việt đang hăng say miệt mài lao động sáng tạo và gặt hái được những thành công đáng ghi nhận.

Cũng có biết bao nhiêu con người dù trong gian khó vẫn lạc quan yêu đời, vẫn luôn luôn nở nụ cười đem lại cho cuộc sống này những gam màu tươi mát. Chỉ có điều nó chưa thật sự trở thành sâu rộng, phổ biến đến mức nổi bật và mang tính đại diện cho cả dân tộc.

Tuy nhiên tôi vẫn tin rằng tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam đều có sẵn những đức tính cần cù thông minh, sáng tạo và cũng cực kỳ thân thiện hiếu khách. Vấn đề là chúng ta phải làm sao gợi dậy được những đức tính đó.

Thế nhưng để làm sao cho những đức tính đó được bộc lộ, phát huy và lan tỏa một cách rộng khắp để trở thành như một thứ “quốc bảo” thì có lẽ còn quá nhiều việc phải làm.
Theo VnExpress

Dẫn nguồn: http://thethaovanhoa.vn

14 thg 5, 2012

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX - Phần cuối


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)
Trần Đình Huợu
IV. Đông Kinh nghĩa thục và tư trào khải mông đầu thế kỷ XX  

1. Chế độ thực dân nửa phong kiến

Phải mất gần 30 năm thực dân Pháp mới làm chủ được lãnh thổ và chính quyền cả nước. Việc cai trị thuộc địa được tổ chức dần trên những vùng đất chiếm được. Có 3 nét đáng chú ý  là thực dân duy trì chính quyền và luật lệ phong kiến làm công cụ, làm tay sai, với tay xuống nắm lấy thôn xã và tổ chức chính quyền theo lối phương Tây ở các đô thị nhương địa. Khi đã ổn định được tình hình thực dân bắt tay vào khai thác thuộc địa. Việc phát triển thương nghiệp, đường giao thông và các thành phố làm thay đổi khá nhiều bộ mặt kinh tế cả nước. Về văn hóa giáo dục bên cạnh các trường Nho học tổ chức như trước, chính quyền thực dân dùng chữ quốc ngữ ra báo chí, mở trường học từ thông ngôn đến Pháp-Việt, Cao đẳng truyền bá văn hóa Pháp…Một xu hướng tư sản hóa hình thành trước hết ở các thành phố, một xu hướng tư sản hóa kiểu thực dân ở thuộc địa. Với sự đổi mới về kinh tế và văn hóa kiểu đó nước ta tham gia vào quỹ đạo của thế giới hiện đại.

Đời sống đô thị, kết cấu kinh tế-xã hội tư sản, lớp trí thức tân học, sự tiếp xúc với thế giới là những điều kiện mới trong cuộc sống của đất nước.

2. Phong trào Duy tân

Trong tình hình sôi sục của châu á sau cuộc Duy Tân của Nhật bản và Mậu tuất chính biến ở Trung Quốc các nhà Nho trẻ tuổi và yêu nước Việt nam đầu thế kỷ phát động một cuộc vận động duy tân theo gương các nước trên. Đến năm 1907 thì thành lập Đông kinh nghĩa thục và nhiều trường khác theo mẫu đó ở nhiều tỉnh. Trước hết đó là một phong trào yêu nước, một cuộc vận động giành độc lập. Nhưng đồng thời, về tư tưởng đó cũng là một cuộc vận động dân chủ, cải cách văn hóa, một phong trào Khải mông.

Tư tưởng duy tân cải cách văn hóa lan tràn khắp nước vào tận đến cả hoạt động tôn giáo (Kinh Đạo nam).

3. Nội dung tư tưởng của phong trào Khải mông cải cách văn hóa

Những nhà yêu nước trẻ tuổi dầu theo chủ trương bạo động hay cải cách cũng đều gắn yêu nước với duy tân, đều ra sức chủ trương cải cách văn hóa giáo dục, khia dân trí chân dân khí. Lần đầu tiên trong lịch sử các nhà Nho tố cáo nọc độc của cái học khoa cử, đưa người "hủ nho" mà thực tế chính là nhà nho, ra bêu diếu, đả kích. Họ phê phán các nhân vật của xã hội phong kiến, công kích các hủ tục từ ma chay, lễ lạt đến khao vọng, từ cách để tóc đến cách ăn bận. Cái mà họ đề xướng là thay đổi nền giáo dục để đào tạo con người mới. Con người mà họ muốn đào tạo là những công dân yêu nước thương nòi, trọng nghĩa đồng bào, chuộng thực nghiệp, dám mạo hiểm trong trường cạnh tranh. Cách giáo dục vừa nhằm nâng tinh thần (dân khí) vừa nhắm mở rộng tri thức lịch sử, địa lý, khoa học theo kiểu phương Tây. Và biện pháp đầu tiên là dùng chữ quốc ngữ, dịch sách vở Châu Âu ra tiếng Việt. Trong khi phe phán xã hội cũ và con người cũ, các nhà Duy tân lên án không ít những điểm khá cơ bản trong thế giới quan, lịch sử quan, chính trị quan Nho giáo. Thế nhưng họ cũng không lên án Nho giáo, thậm chí vãn rất sùng kính Thánh hiền, coi nó là cái của dân tộc, vẫn chủ trương học chính văn của kinh truyện.

Cách hiểu văn minh, văn hóa Phương Tây và cách nhìn truyền thống văn hóa dân tộc của họ quy định trình độ tư tưởng dân chủ của họ.

Trong lịch sử đầu thế kỷ, tư tưởng các nhà Nho duy tân có vận mệnh vài chục năm, biểu hiện không giống nhau ở một số đại biểu. Qua thời gian vài chục năm đó nó đi từ là cách mạng , tiền tiến đến lạc hậu bảo thủ và người nào cũng trải qua quá trình bắt đầu từ giác ngộ từ bỏ Nho giáo, say mê văn minh phương Tây đến nói suông, lạc lõng, không am hiểu và "lại giống" trở về là nhà Nho.

Có vị trí mở đầu là Nguyễn Thượng Hiền, trên dưới 20 tuổi đã đậu thám hoa, Hoàng giáp, là một trong những người đầu tiên đọc và truyền bá Tân thư. Thơ văn thời trẻ của ông chứa chan lòng trung nghĩa và xúc cảm của người ẩn sĩ giữ khí tiết. Sau khi được cảm hóa vì tư tưởng mới, ông hăng hái hô hào hợp đoàn doanh sinh, đốt văn tập, lên án văn chương cử tử rồi xuất dương cứu nước. Tiếp theo Nguyễn Thượng Hiền là cả một thế hệ mà hai người tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hai người nhận thức khác nhau, chủ trương khác nhau và phát triển theo hai đường khác nhau. Hai cụ Phan trở thành lãnh tụ của cả phong trào lúc đó, và cũng là đỉnh cao nhất của tư tưởng yêu nước, tư tưởng duy tân, tư tưởng khải mông lúc đó.

Vào những năm 10 của thế kỷ các nhà yêu nước người thì xuất dương, người thì vào tù. Thực dân Pháp đề phòng tái diễn những phong trào như vậy cho tay sai ra mở trường (như Đông Kinh nghĩa thục), mở báo (như chủ trương của các nhà Duy Tân), dịch sách , giới thiệu văn minh phương Tây (như chủ trương của các nhà Duy Tân). Nhưng việc làm của nhóm Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là biến cải cách cách mạng thành cải lương, biến học tập văn minh phương Tây thành tuyên truyền và đề cao văn hóa Pháp, đưa yêu nước giành độc lập vào con đường xây dựng quốc văn.

Đầu những năm 20 các chí sĩ như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng từ nhà tù Côn Đảo được thả về. Họ lại hăng hái tiếp tục công việc bị tù đày gián đoạn. Các cụ đã tỏ ra rất sắc sảo vạch mặt thực dân và tay sai nhưng những kiến giải của các cụ về chính trị, xã hội, văn hóa, có thể nói là tiền tiến với nhà Nho nhưng lại là cổ lộ, lạc hậu với thực tế, với sự hiểu biết của lớp thanh niên yêu nước có tân học.

Vì lòng yêu nước thương dân các nhà Nho không ngần ngại lột xác, tự phê phán, sẵn sàng tiếp nhận cái văn minh phương Tây tuy xa lạ nhưng cũng mới lạ. Họ được mở rộng tầm nhìn và tri thức. Nhưng với cái vốn hiểu biết về văn minh, về khoa học, về tư tưởng, phương Tây được báo chí Trung quốc lúc đó giới thiệu, các cụ còn xa mới hiểu đúng nội dung thực.

Cuối cùng khi trở thành lạc lõng, họ trở nên cô độc, làm thơ tâm sự giãi bày nỗi uất ức, đi vào con đường xa lánh giữ khí tiết. Vô tình họ bước theo vết chân của các nhà Nho xưa.

Nhà Nho không vác thay được lá cờ tư tưởng của giai cấp tư sản mà trong lực lượng dân tộc lúc đó lại chưa có lực lượng giai cấp mới. Nho giáo làm vướng víu nghiêm trọng đến nhận thức của những người thực sự nhiệt thành yêu nước và duy tân thời đó.

V. Phan Bội Châu   

1. Phan Bội Châu nhà tư tưởng

Trong lịch sử dân tộc ta, Phan Bội Châu là người tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử; thời cận đại; thời cận đại ngắn ngủi, từ lúc thời trung cổ kết thúc (thế kỷ XIX) mà thời hiện đại chưa bắt đầu (1930). Phan Bội Châu là nhà yêu nước, nhà hoạt động chính trị, là một nhà thơ lớn. Ông cũng là nhà duy tân , cách mạng, muốn đưa đất nước theo kịp các nước văn minh, và vì vậy nhiều lần nhận ra cái sai lầm cũ của mình, tiếp thu cái mới, đi từ tư tưởng quân chủ lập hiến đến tư tưởng cộng hòa, đến chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận ra cái cũ và tiếp nhận cái mới làm cho ông trở thành nhà tư tưởng.

Là nhà Nho ở vùng nông thôn Nghệ Tĩnh Phan Bội Châu vào kinh đô Huế, gặp Nguyễn Thượng Hiền, gặp Nguyễn Thành, được đọc Tân thư bàn tính một chương trình cứu nước có quy mô toàn quốc, dựa vào chính Đảng, liên kết cầu viện nước ngoài. Từ 1905 đến 1925 trong môi trường Châu á đang sôi sục chống đế quốc. Phan Bội Châu làm quen với nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Với tầm nhìn và cách nhận thức của một nhà nho yêu nước, Phan Bội Châu đã xây dựng tư tưởng của mình từng bước. Tư tưởng Phan Bội Châu bao gồm cả tư tưởng chính trị-xã hội, tư tưởng mỹ học, tư tưởng triết học. Tư tưởng Phan Bội Châu tiêu biểu cho tư tưởng Việt Nam thời đó, đúng hơn là tiêu biểu cho chặng đường tất yếu từ thời trung cổ phương Đông tiến đến tư tương hiện đại.

2. Phan Bội Châu và tư tương yêu nước

Với Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo, Tân Việt Nam, Phan Bội Châu đã trình bày quan niệm mới về nước, về dân, về quan hệ nước và dân, phủ nhận tư tưởng yêu nước là trung nghĩa, quốc sử chỉ là gia sử. Với tư tưởng yêu nước mới Phan Bội Châu đề xướng đoàn kết dân tộc, nêu ra đạo lý làm người Việt Nam: yêu nước, căm thù giặc, không chịu làm nô lệ, đề xướng một chế độ cộng hoà của nhân dân…

Cách hiểu truyền thống dân tộc, con đường giành độc lập, phương hướng duy tân, chế độ cộng hoà của Phan Bội Châu có nhiều chỗ khác Phan Chu Trinh. Điều đó có? ý nghĩa lịch sử rất lớn.

3. Phan Bội Châu và các hệ tư tưởng truyền thông

Phan Bội Châu là nhà Nho nổi tiếng, chịu ảnh hưởng Nho giáo khá sâu sắc. Để kết hợp yêu nước và duy tân, Phan Bội Châu đã phải chia tay với đạo lý thánh hiền ở nhiều điểm. Nhưng trong quá trình tiếp nhận tư tưởng mới (dân chủ, xã hội chủ nghĩa) Phan Bội Châu đã phải nhìn lại và chịu không ít những ràng buộc với tư tưởng Nho giáo.

Vào những năm 30 Phan Bội Châu viết mấy tác phẩm có ý nghĩa đánh giá các hệ tư tưởng truyền thống; Khổng học đăng, Phật học đăng, Dịch kinh chú giải. Trong các tác phẩm đó ngoài? ý nghĩa trình bày giới thiệu các học thuyết ta cũng thấy rõ cách đưa nội dung yêu nước, duy tân vào các học thuyết cổ, cách sauy nghĩ, cách nhận thức của ông về các vấn đề tư tưởng.

4. Phan Bội Châu và chủ nghĩa xã hội

Phan Bội Châu có viết Chủ nghĩa xã hội, Nhân sinh triết học và trong một số bài thơ, truyện ngắn, theo ý của tác giả nói đến sự đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Đọc các tác phẩm ấy ta thấy rõ Phan Bội Châu đi từ tư tưởng bình quân của nông dân, tư tưởng Đại đồng của Nho gia đến chủ nghĩa xã hội thế nào.

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông cận hiện đại, Phúc Trạch Dụ Cát của Nhật Bản, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu của Trung Quốc và Phan Bội Châu của Việt Nam đã đi bằng bước chân của dân tộc mình mà đến thế giới hiện đại.


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX - Phần 2


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
Trần Đình Huợu
(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)



II. Sự đụng độ với phương Tây và tình hình gay gắt trong đấu tranh tư tưởng giữa thế kỷ XIX

1. Việt Nam tiếp xúc với Phương Tây

 Phương Tây vào buôn bán và truyền giáo, mở đầu cuộc tiếp xúc với nước ta từ thế kỷ XVI, XVII cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trong khoảng thế kỷ XVI-XVIII các chúa Trịnh Nguyễn đều lợi dụng quan hệ đó mua khí giới và hàng hoá.

Công giáo theo các thuyền buôn mà vào, đi vào quần chúng nghèo khổ, có khi cũng được cả giới quyền quý tiếp nhận, nhưng đối với đời sống văn hóa Việt Nam, công giáo vẫn là cái xa lạ. Tư tưởng Nho Phật bám chắc vào cơ chế gia đình + làng, họ + chính quyền chuyên chế không để cho công giáo hòa vào đời sống tinh thần của xã hội. Trong cả mấy thế kỷ, tư tưởng Công giáo không thấm vào văn học, nghệ thuật, học thuật. Cũng không xảy ra tranh luận giữa Tam giáo với Tôn giáo mới đó. ở Việt Nam không có một giòng Lan học như ở Nhật Bản.

2. Nhà Nguyễn cấm thông thương và truyền giáo

Nguyễn ánh dựa vào giáo sĩ và thương nhân phương Tây để chống Tây sơn, hiểu sức mạnh kỹ thuật mà cũng hiểu dã tâm của họ. Khi đã giành được nước Gia Long ruồng bỏ các cố vấn. Minh Mạng còn triệt để hơn, dùng đối sách cực đoan; cấm thông thương, giết giáo sĩ, cấm truyền giáo, an tháp giáo dân… Một mặt Minh Mạng-nhà vua, nhà chính trị lỗi lạc nhất của triều Nguyễn-tưởng bằng cách xa lánh, cắt quan hệ, tự cô lập có thể tránh được họa xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, mặt khác tưởng có thể dùng lý thuyết Âm Dương, Ngũ hành tiến hành các thí nghiệm đuổi kịp khoa học kỹ thuật phương Tây, dùng Nho giáo để củng cố nội bộ.

Qua vài chục năm đến thời Thiệu Trị, Tự Đức, tình hình nghiêm trọng hơn. Một mặt trong nước có nhiều khó khăn hơn, chính quyền suy yếu hơn, mặt khác thực dân quyết tâm dùng vũ lực xâm lược, huy động giáo dân làm lực lượng bạo loạn. Thiệu Trị, Tự Đức, càng áp dụng triệt để chính sách của Minh Mạng càng làm nguy cơ tăng thêm.

3. Ba vấn đề gay gắt trong đấu tranh tư tưởng

Trước nguy cơ của dân tộc, ba vấn đề nổi lên gây tranh luận gay gắt:
- Duy tân hay thủ cựu
- Chính đạo hay tà thuyết
- Chiến hay hòa

Tranh luận không chỉ đóng kín, trong phạm vi vua tôi ở triều đình mà mở rộng ra hỏi kiến quan lại địa phương, làm đầu đề văn sách hỏi kiến sĩ tử. Ba vấn đề đó thành vấn đề của công luận.

4. Nguyễn Trường Tộ và các nhà cải cách

Nhiều người đề xuất những yêu cầu duy tân cải cách, tiêu biểu hơn cả là những lời điều trần của Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ chủ trương đổi mới ở những chỗ nào? Học phương Tây cái gì? Có thái độ đối với Nho giáo ra sao?  Đó chính là chỗ làm căn cứ để đánh giá tư tưởng duy tân, Âu hóa lúc đó.

Trong thực tế nguy cơ đã quá gần, nhiều người thấy được thực tế nhưng trong tư tưởng chưa ai thoát khỏi quỹ đạo cũ nhìn ra nhu cầu phá bỏ cơ sở kinh tế-xã hội của chế độ chuyên chế giải thoát khỏi Nho giáo. Cải cách cũng chỉ để phú quốc cường binh mà thôi.

III. Pháp xâm lược và nội dung tư tưởng yêu nước cuối thể kỷ XIX

1. Pháp xâm lược và phong trào chống Pháp

Pháp nổ súng xâm lược, nhanh chóng chiếm Nam bộ. Mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Vấn đề tập trung ở chỗ chiến hay hòa. Nhân dân cả nước, đứng đàng sau các nhà văn thân địa phương , lần lượt đứng lên chống giặc. Yêu nước, ứng nghĩa thành một tư trào mạnh mẽ khắp đất nước, kéo dài đến mấy chục năm. Mở đầu tư trào đó là ở Nam bộ với Nguyễn Đình Chiểu.

2. Nguyễn Đình Chiểu 

Trước khi viết hịch, làm thơ trực tiếp đứng trong cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Nguyễn Đình Chiểu là tác giả truyện Nôm LụcVân Tiên và Dương Từ Hà Mậu. Và sau khi Nam bộ mất vào tay giặc Nguyễn Đình Chiểu là tác giả Ngư tiều vấn đáp. Nguyễn Đình Chiểu đã điều chỉnh  vấn đề của truyện nôm (xu hướng nhân đạo của Hoa tiên, Kiều) giải quyết vấn đề xuất xử theo Đạo, Nghĩa trong tất cả mọi sáng tác của mình từ Lục Vân Tiên cho đến thơ, hịch, Ngư Tiều vấn đáp. Cách phân biệt chính tà, cách giải thích Nhân nghĩa, cách giải thích Đạo của Nguyễn Đình Chiểu là nền tảng của tư tưởng yêu nước của Cụ mà cũng là cơ sở cho lẽ xuất xử của Lục Vân Tiên, của Kỳ nhân sư. Mặt khác nó cũng nhất trí với tư tưởng Âm dương, Ngũ hành trong y thuật, với thái độ chống Phật, Đạo, Công giáo trong Dương Từ Hà Mậu.

3. Tư tưởng Trung Nghĩa trong văn học yêu nước của phong trào Cần vương

Khi vấn đề rõ ràng chỉ còn là đánh hay hòa, vấn đề duy ân cải cách cũng như vấn đề hạnh phúc hay tự do của con người bị gác lại. Càng tích cực kháng chiến càng bảo vệ Nho giáo: dựa vào cương thường mà chống ngoại xâm. Đó là tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu mà cũng là tư tưởng của Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng. Nho giáo trở thành là cái của Thánh hiền, của cha ông, của dân tộc, của truyền thống. Người ta dùng tư tưởng Nho giáo củng cố quan hệ giữa Nước và Vua, giữa Vua và Dân, giữa Độc Lập và đạo Thánh (văn hóa truyền thống) và đề cao trách nhiệm cho chính quyền, cho sĩ phu và cho dân. Trong cái được coi là của cha ông, của dân tộc dùng làm võ khí chống ngoại xâm không có tư tưởng Phật và Lão Trang.

Đáng chú ý là trong bài Hịch của Lãnh Cồ, trong bài biểu của văn thân vùng Nghệ an đã trực tiếp lên án vua đầu hàng, kêu gọi một tinh thần tự nhiệm của sĩ dân, vì nghĩa mà không an mệnh. Nhưng đó cũng chỉ là những biểu hiện đột xuất, không phải là phổ biến trong tư tưởng yêu nước của thời đại.

Tư tưởng Trung nghĩa coi nước và vua là một như vậy còn khá rõ ở những người yêu nước lớp sau như Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thành. Mà tư tưởng hành tàng xuất xử mà ta thấy trong tác phẩm và trong cuộc đời thực của Nguyễn Đình Chiểu ta cũng còn thấy ở các nhà Nho lớp sau như Nguyễn Khuyến.

Trong thực tế kinh tế-xã hội chưa xuất hiện cơ sở mới để thay đổi tư tưởng, để chống Nho giáo.

Dẫn theo: http://triethoc.edu.vn 


Tổng số lượt xem trang

free counters