LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
Trần Đình Huợu
(ĐỀ CƯƠNG CHI
TIẾT)
II. Sự đụng độ
với phương Tây và tình hình gay gắt trong đấu tranh tư tưởng giữa thế kỷ XIX
1. Việt Nam tiếp
xúc với Phương Tây
Phương Tây
vào buôn bán và truyền giáo, mở đầu cuộc tiếp xúc với nước ta từ thế kỷ XVI,
XVII cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trong khoảng thế kỷ XVI-XVIII các chúa Trịnh
Nguyễn đều lợi dụng quan hệ đó mua khí giới và hàng hoá.
Công giáo theo
các thuyền buôn mà vào, đi vào quần chúng nghèo khổ, có khi cũng được cả giới
quyền quý tiếp nhận, nhưng đối với đời sống văn hóa Việt Nam, công giáo vẫn là
cái xa lạ. Tư tưởng Nho Phật bám chắc vào cơ chế gia đình + làng, họ + chính
quyền chuyên chế không để cho công giáo hòa vào đời sống tinh thần của xã hội.
Trong cả mấy thế kỷ, tư tưởng Công giáo không thấm vào văn học, nghệ thuật, học
thuật. Cũng không xảy ra tranh luận giữa Tam giáo với Tôn giáo mới đó. ở Việt
Nam không có một giòng Lan học như ở Nhật Bản.
2. Nhà Nguyễn
cấm thông thương và truyền giáo
Nguyễn ánh
dựa vào giáo sĩ và thương nhân phương Tây để chống Tây sơn, hiểu sức mạnh kỹ
thuật mà cũng hiểu dã tâm của họ. Khi đã giành được nước Gia Long ruồng bỏ các
cố vấn. Minh Mạng còn triệt để hơn, dùng đối sách cực đoan; cấm thông thương,
giết giáo sĩ, cấm truyền giáo, an tháp giáo dân… Một mặt Minh Mạng-nhà vua, nhà
chính trị lỗi lạc nhất của triều Nguyễn-tưởng bằng cách xa lánh, cắt quan hệ,
tự cô lập có thể tránh được họa xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, mặt
khác tưởng có thể dùng lý thuyết Âm Dương, Ngũ hành tiến hành các thí nghiệm
đuổi kịp khoa học kỹ thuật phương Tây, dùng Nho giáo để củng cố nội bộ.
Qua vài chục năm
đến thời Thiệu Trị, Tự Đức, tình hình nghiêm trọng hơn. Một mặt trong nước có
nhiều khó khăn hơn, chính quyền suy yếu hơn, mặt khác thực dân quyết tâm dùng
vũ lực xâm lược, huy động giáo dân làm lực lượng bạo loạn. Thiệu Trị, Tự Đức,
càng áp dụng triệt để chính sách của Minh Mạng càng làm nguy cơ tăng thêm.
3. Ba vấn đề gay
gắt trong đấu tranh tư tưởng
Trước nguy cơ
của dân tộc, ba vấn đề nổi lên gây tranh luận gay gắt:
- Duy tân hay
thủ cựu
- Chính đạo hay
tà thuyết
- Chiến hay hòa
Tranh luận không
chỉ đóng kín, trong phạm vi vua tôi ở triều đình mà mở rộng ra hỏi ?ý kiến quan lại địa phương, làm đầu đề văn
sách hỏi ?ý kiến sĩ tử. Ba vấn đề đó thành vấn đề của
công luận.
4. Nguyễn Trường
Tộ và các nhà cải cách
Nhiều người đề
xuất những yêu cầu duy tân cải cách, tiêu biểu hơn cả là những lời điều
trần của Nguyễn Trường Tộ.
Nguyễn Trường Tộ
chủ trương đổi mới ở những chỗ nào? Học phương Tây cái gì? Có thái độ đối với
Nho giáo ra sao? Đó chính là chỗ làm căn cứ để đánh giá tư tưởng duy tân,
Âu hóa lúc đó.
Trong thực tế
nguy cơ đã quá gần, nhiều người thấy được thực tế nhưng trong tư tưởng chưa ai
thoát khỏi quỹ đạo cũ nhìn ra nhu cầu phá bỏ cơ sở kinh tế-xã hội của chế độ
chuyên chế giải thoát khỏi Nho giáo. Cải cách cũng chỉ để phú quốc cường binh
mà thôi.
III. Pháp xâm
lược và nội dung tư tưởng yêu nước cuối thể kỷ XIX
1. Pháp xâm lược
và phong trào chống Pháp
Pháp nổ súng xâm
lược, nhanh chóng chiếm Nam bộ. Mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Vấn đề tập
trung ở chỗ chiến hay hòa. Nhân dân cả nước, đứng đàng sau các nhà văn thân địa
phương , lần lượt đứng lên chống giặc. Yêu nước, ứng nghĩa thành một tư trào
mạnh mẽ khắp đất nước, kéo dài đến mấy chục năm. Mở đầu tư trào đó là ở Nam bộ
với Nguyễn Đình Chiểu.
2. Nguyễn Đình
Chiểu
Trước khi viết
hịch, làm thơ trực tiếp đứng trong cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Nguyễn Đình Chiểu
là tác giả truyện Nôm LụcVân Tiên và Dương Từ Hà Mậu. Và sau khi Nam bộ mất vào
tay giặc Nguyễn Đình Chiểu là tác giả Ngư tiều vấn đáp. Nguyễn Đình Chiểu đã
điều chỉnh vấn đề của truyện nôm (xu hướng nhân đạo của Hoa tiên, Kiều)
giải quyết vấn đề xuất xử theo Đạo, Nghĩa trong tất cả mọi sáng tác của mình từ
Lục Vân Tiên cho đến thơ, hịch, Ngư Tiều vấn đáp. Cách phân biệt chính tà, cách
giải thích Nhân nghĩa, cách giải thích Đạo của Nguyễn Đình Chiểu là nền tảng
của tư tưởng yêu nước của Cụ mà cũng là cơ sở cho lẽ xuất xử của Lục Vân Tiên,
của Kỳ nhân sư. Mặt khác nó cũng nhất trí với tư tưởng Âm dương, Ngũ hành trong
y thuật, với thái độ chống Phật, Đạo, Công giáo trong Dương Từ Hà Mậu.
3. Tư tưởng
Trung Nghĩa trong văn học yêu nước của phong trào Cần vương
Khi vấn đề rõ
ràng chỉ còn là đánh hay hòa, vấn đề duy ân cải cách cũng như vấn đề hạnh phúc
hay tự do của con người bị gác lại. Càng tích cực kháng chiến càng bảo vệ Nho
giáo: dựa vào cương thường mà chống ngoại xâm. Đó là tư tưởng của Nguyễn Đình
Chiểu mà cũng là tư tưởng của Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình
Phùng. Nho giáo trở thành là cái của Thánh hiền, của cha ông, của dân tộc, của
truyền thống. Người ta dùng tư tưởng Nho giáo củng cố quan hệ giữa Nước và Vua,
giữa Vua và Dân, giữa Độc Lập và đạo Thánh (văn hóa truyền thống) và đề cao
trách nhiệm cho chính quyền, cho sĩ phu và cho dân. Trong cái được coi là của
cha ông, của dân tộc dùng làm võ khí chống ngoại xâm không có tư tưởng Phật và
Lão Trang.
Đáng chú ý là
trong bài Hịch của Lãnh Cồ, trong bài biểu của văn thân vùng Nghệ an đã trực
tiếp lên án vua đầu hàng, kêu gọi một tinh thần tự nhiệm của sĩ dân, vì
nghĩa mà không an mệnh. Nhưng đó cũng chỉ là những biểu hiện đột xuất, không
phải là phổ biến trong tư tưởng yêu nước của thời đại.
Tư tưởng Trung
nghĩa coi nước và vua là một như vậy còn khá rõ ở những người yêu nước lớp sau
như Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thành. Mà tư tưởng hành tàng xuất xử mà ta thấy
trong tác phẩm và trong cuộc đời thực của Nguyễn Đình Chiểu ta cũng còn thấy ở
các nhà Nho lớp sau như Nguyễn Khuyến.
Trong thực tế
kinh tế-xã hội chưa xuất hiện cơ sở mới để thay đổi tư tưởng, để chống Nho
giáo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét