Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

14 thg 5, 2012

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX - Phần 2


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
Trần Đình Huợu
(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)



II. Sự đụng độ với phương Tây và tình hình gay gắt trong đấu tranh tư tưởng giữa thế kỷ XIX

1. Việt Nam tiếp xúc với Phương Tây

 Phương Tây vào buôn bán và truyền giáo, mở đầu cuộc tiếp xúc với nước ta từ thế kỷ XVI, XVII cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Trong khoảng thế kỷ XVI-XVIII các chúa Trịnh Nguyễn đều lợi dụng quan hệ đó mua khí giới và hàng hoá.

Công giáo theo các thuyền buôn mà vào, đi vào quần chúng nghèo khổ, có khi cũng được cả giới quyền quý tiếp nhận, nhưng đối với đời sống văn hóa Việt Nam, công giáo vẫn là cái xa lạ. Tư tưởng Nho Phật bám chắc vào cơ chế gia đình + làng, họ + chính quyền chuyên chế không để cho công giáo hòa vào đời sống tinh thần của xã hội. Trong cả mấy thế kỷ, tư tưởng Công giáo không thấm vào văn học, nghệ thuật, học thuật. Cũng không xảy ra tranh luận giữa Tam giáo với Tôn giáo mới đó. ở Việt Nam không có một giòng Lan học như ở Nhật Bản.

2. Nhà Nguyễn cấm thông thương và truyền giáo

Nguyễn ánh dựa vào giáo sĩ và thương nhân phương Tây để chống Tây sơn, hiểu sức mạnh kỹ thuật mà cũng hiểu dã tâm của họ. Khi đã giành được nước Gia Long ruồng bỏ các cố vấn. Minh Mạng còn triệt để hơn, dùng đối sách cực đoan; cấm thông thương, giết giáo sĩ, cấm truyền giáo, an tháp giáo dân… Một mặt Minh Mạng-nhà vua, nhà chính trị lỗi lạc nhất của triều Nguyễn-tưởng bằng cách xa lánh, cắt quan hệ, tự cô lập có thể tránh được họa xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, mặt khác tưởng có thể dùng lý thuyết Âm Dương, Ngũ hành tiến hành các thí nghiệm đuổi kịp khoa học kỹ thuật phương Tây, dùng Nho giáo để củng cố nội bộ.

Qua vài chục năm đến thời Thiệu Trị, Tự Đức, tình hình nghiêm trọng hơn. Một mặt trong nước có nhiều khó khăn hơn, chính quyền suy yếu hơn, mặt khác thực dân quyết tâm dùng vũ lực xâm lược, huy động giáo dân làm lực lượng bạo loạn. Thiệu Trị, Tự Đức, càng áp dụng triệt để chính sách của Minh Mạng càng làm nguy cơ tăng thêm.

3. Ba vấn đề gay gắt trong đấu tranh tư tưởng

Trước nguy cơ của dân tộc, ba vấn đề nổi lên gây tranh luận gay gắt:
- Duy tân hay thủ cựu
- Chính đạo hay tà thuyết
- Chiến hay hòa

Tranh luận không chỉ đóng kín, trong phạm vi vua tôi ở triều đình mà mở rộng ra hỏi kiến quan lại địa phương, làm đầu đề văn sách hỏi kiến sĩ tử. Ba vấn đề đó thành vấn đề của công luận.

4. Nguyễn Trường Tộ và các nhà cải cách

Nhiều người đề xuất những yêu cầu duy tân cải cách, tiêu biểu hơn cả là những lời điều trần của Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ chủ trương đổi mới ở những chỗ nào? Học phương Tây cái gì? Có thái độ đối với Nho giáo ra sao?  Đó chính là chỗ làm căn cứ để đánh giá tư tưởng duy tân, Âu hóa lúc đó.

Trong thực tế nguy cơ đã quá gần, nhiều người thấy được thực tế nhưng trong tư tưởng chưa ai thoát khỏi quỹ đạo cũ nhìn ra nhu cầu phá bỏ cơ sở kinh tế-xã hội của chế độ chuyên chế giải thoát khỏi Nho giáo. Cải cách cũng chỉ để phú quốc cường binh mà thôi.

III. Pháp xâm lược và nội dung tư tưởng yêu nước cuối thể kỷ XIX

1. Pháp xâm lược và phong trào chống Pháp

Pháp nổ súng xâm lược, nhanh chóng chiếm Nam bộ. Mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Vấn đề tập trung ở chỗ chiến hay hòa. Nhân dân cả nước, đứng đàng sau các nhà văn thân địa phương , lần lượt đứng lên chống giặc. Yêu nước, ứng nghĩa thành một tư trào mạnh mẽ khắp đất nước, kéo dài đến mấy chục năm. Mở đầu tư trào đó là ở Nam bộ với Nguyễn Đình Chiểu.

2. Nguyễn Đình Chiểu 

Trước khi viết hịch, làm thơ trực tiếp đứng trong cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Nguyễn Đình Chiểu là tác giả truyện Nôm LụcVân Tiên và Dương Từ Hà Mậu. Và sau khi Nam bộ mất vào tay giặc Nguyễn Đình Chiểu là tác giả Ngư tiều vấn đáp. Nguyễn Đình Chiểu đã điều chỉnh  vấn đề của truyện nôm (xu hướng nhân đạo của Hoa tiên, Kiều) giải quyết vấn đề xuất xử theo Đạo, Nghĩa trong tất cả mọi sáng tác của mình từ Lục Vân Tiên cho đến thơ, hịch, Ngư Tiều vấn đáp. Cách phân biệt chính tà, cách giải thích Nhân nghĩa, cách giải thích Đạo của Nguyễn Đình Chiểu là nền tảng của tư tưởng yêu nước của Cụ mà cũng là cơ sở cho lẽ xuất xử của Lục Vân Tiên, của Kỳ nhân sư. Mặt khác nó cũng nhất trí với tư tưởng Âm dương, Ngũ hành trong y thuật, với thái độ chống Phật, Đạo, Công giáo trong Dương Từ Hà Mậu.

3. Tư tưởng Trung Nghĩa trong văn học yêu nước của phong trào Cần vương

Khi vấn đề rõ ràng chỉ còn là đánh hay hòa, vấn đề duy ân cải cách cũng như vấn đề hạnh phúc hay tự do của con người bị gác lại. Càng tích cực kháng chiến càng bảo vệ Nho giáo: dựa vào cương thường mà chống ngoại xâm. Đó là tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu mà cũng là tư tưởng của Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng. Nho giáo trở thành là cái của Thánh hiền, của cha ông, của dân tộc, của truyền thống. Người ta dùng tư tưởng Nho giáo củng cố quan hệ giữa Nước và Vua, giữa Vua và Dân, giữa Độc Lập và đạo Thánh (văn hóa truyền thống) và đề cao trách nhiệm cho chính quyền, cho sĩ phu và cho dân. Trong cái được coi là của cha ông, của dân tộc dùng làm võ khí chống ngoại xâm không có tư tưởng Phật và Lão Trang.

Đáng chú ý là trong bài Hịch của Lãnh Cồ, trong bài biểu của văn thân vùng Nghệ an đã trực tiếp lên án vua đầu hàng, kêu gọi một tinh thần tự nhiệm của sĩ dân, vì nghĩa mà không an mệnh. Nhưng đó cũng chỉ là những biểu hiện đột xuất, không phải là phổ biến trong tư tưởng yêu nước của thời đại.

Tư tưởng Trung nghĩa coi nước và vua là một như vậy còn khá rõ ở những người yêu nước lớp sau như Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thành. Mà tư tưởng hành tàng xuất xử mà ta thấy trong tác phẩm và trong cuộc đời thực của Nguyễn Đình Chiểu ta cũng còn thấy ở các nhà Nho lớp sau như Nguyễn Khuyến.

Trong thực tế kinh tế-xã hội chưa xuất hiện cơ sở mới để thay đổi tư tưởng, để chống Nho giáo.

Dẫn theo: http://triethoc.edu.vn 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters