Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

14 thg 5, 2012

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX - Phần cuối


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)
Trần Đình Huợu
IV. Đông Kinh nghĩa thục và tư trào khải mông đầu thế kỷ XX  

1. Chế độ thực dân nửa phong kiến

Phải mất gần 30 năm thực dân Pháp mới làm chủ được lãnh thổ và chính quyền cả nước. Việc cai trị thuộc địa được tổ chức dần trên những vùng đất chiếm được. Có 3 nét đáng chú ý  là thực dân duy trì chính quyền và luật lệ phong kiến làm công cụ, làm tay sai, với tay xuống nắm lấy thôn xã và tổ chức chính quyền theo lối phương Tây ở các đô thị nhương địa. Khi đã ổn định được tình hình thực dân bắt tay vào khai thác thuộc địa. Việc phát triển thương nghiệp, đường giao thông và các thành phố làm thay đổi khá nhiều bộ mặt kinh tế cả nước. Về văn hóa giáo dục bên cạnh các trường Nho học tổ chức như trước, chính quyền thực dân dùng chữ quốc ngữ ra báo chí, mở trường học từ thông ngôn đến Pháp-Việt, Cao đẳng truyền bá văn hóa Pháp…Một xu hướng tư sản hóa hình thành trước hết ở các thành phố, một xu hướng tư sản hóa kiểu thực dân ở thuộc địa. Với sự đổi mới về kinh tế và văn hóa kiểu đó nước ta tham gia vào quỹ đạo của thế giới hiện đại.

Đời sống đô thị, kết cấu kinh tế-xã hội tư sản, lớp trí thức tân học, sự tiếp xúc với thế giới là những điều kiện mới trong cuộc sống của đất nước.

2. Phong trào Duy tân

Trong tình hình sôi sục của châu á sau cuộc Duy Tân của Nhật bản và Mậu tuất chính biến ở Trung Quốc các nhà Nho trẻ tuổi và yêu nước Việt nam đầu thế kỷ phát động một cuộc vận động duy tân theo gương các nước trên. Đến năm 1907 thì thành lập Đông kinh nghĩa thục và nhiều trường khác theo mẫu đó ở nhiều tỉnh. Trước hết đó là một phong trào yêu nước, một cuộc vận động giành độc lập. Nhưng đồng thời, về tư tưởng đó cũng là một cuộc vận động dân chủ, cải cách văn hóa, một phong trào Khải mông.

Tư tưởng duy tân cải cách văn hóa lan tràn khắp nước vào tận đến cả hoạt động tôn giáo (Kinh Đạo nam).

3. Nội dung tư tưởng của phong trào Khải mông cải cách văn hóa

Những nhà yêu nước trẻ tuổi dầu theo chủ trương bạo động hay cải cách cũng đều gắn yêu nước với duy tân, đều ra sức chủ trương cải cách văn hóa giáo dục, khia dân trí chân dân khí. Lần đầu tiên trong lịch sử các nhà Nho tố cáo nọc độc của cái học khoa cử, đưa người "hủ nho" mà thực tế chính là nhà nho, ra bêu diếu, đả kích. Họ phê phán các nhân vật của xã hội phong kiến, công kích các hủ tục từ ma chay, lễ lạt đến khao vọng, từ cách để tóc đến cách ăn bận. Cái mà họ đề xướng là thay đổi nền giáo dục để đào tạo con người mới. Con người mà họ muốn đào tạo là những công dân yêu nước thương nòi, trọng nghĩa đồng bào, chuộng thực nghiệp, dám mạo hiểm trong trường cạnh tranh. Cách giáo dục vừa nhằm nâng tinh thần (dân khí) vừa nhắm mở rộng tri thức lịch sử, địa lý, khoa học theo kiểu phương Tây. Và biện pháp đầu tiên là dùng chữ quốc ngữ, dịch sách vở Châu Âu ra tiếng Việt. Trong khi phe phán xã hội cũ và con người cũ, các nhà Duy tân lên án không ít những điểm khá cơ bản trong thế giới quan, lịch sử quan, chính trị quan Nho giáo. Thế nhưng họ cũng không lên án Nho giáo, thậm chí vãn rất sùng kính Thánh hiền, coi nó là cái của dân tộc, vẫn chủ trương học chính văn của kinh truyện.

Cách hiểu văn minh, văn hóa Phương Tây và cách nhìn truyền thống văn hóa dân tộc của họ quy định trình độ tư tưởng dân chủ của họ.

Trong lịch sử đầu thế kỷ, tư tưởng các nhà Nho duy tân có vận mệnh vài chục năm, biểu hiện không giống nhau ở một số đại biểu. Qua thời gian vài chục năm đó nó đi từ là cách mạng , tiền tiến đến lạc hậu bảo thủ và người nào cũng trải qua quá trình bắt đầu từ giác ngộ từ bỏ Nho giáo, say mê văn minh phương Tây đến nói suông, lạc lõng, không am hiểu và "lại giống" trở về là nhà Nho.

Có vị trí mở đầu là Nguyễn Thượng Hiền, trên dưới 20 tuổi đã đậu thám hoa, Hoàng giáp, là một trong những người đầu tiên đọc và truyền bá Tân thư. Thơ văn thời trẻ của ông chứa chan lòng trung nghĩa và xúc cảm của người ẩn sĩ giữ khí tiết. Sau khi được cảm hóa vì tư tưởng mới, ông hăng hái hô hào hợp đoàn doanh sinh, đốt văn tập, lên án văn chương cử tử rồi xuất dương cứu nước. Tiếp theo Nguyễn Thượng Hiền là cả một thế hệ mà hai người tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Hai người nhận thức khác nhau, chủ trương khác nhau và phát triển theo hai đường khác nhau. Hai cụ Phan trở thành lãnh tụ của cả phong trào lúc đó, và cũng là đỉnh cao nhất của tư tưởng yêu nước, tư tưởng duy tân, tư tưởng khải mông lúc đó.

Vào những năm 10 của thế kỷ các nhà yêu nước người thì xuất dương, người thì vào tù. Thực dân Pháp đề phòng tái diễn những phong trào như vậy cho tay sai ra mở trường (như Đông Kinh nghĩa thục), mở báo (như chủ trương của các nhà Duy Tân), dịch sách , giới thiệu văn minh phương Tây (như chủ trương của các nhà Duy Tân). Nhưng việc làm của nhóm Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là biến cải cách cách mạng thành cải lương, biến học tập văn minh phương Tây thành tuyên truyền và đề cao văn hóa Pháp, đưa yêu nước giành độc lập vào con đường xây dựng quốc văn.

Đầu những năm 20 các chí sĩ như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng từ nhà tù Côn Đảo được thả về. Họ lại hăng hái tiếp tục công việc bị tù đày gián đoạn. Các cụ đã tỏ ra rất sắc sảo vạch mặt thực dân và tay sai nhưng những kiến giải của các cụ về chính trị, xã hội, văn hóa, có thể nói là tiền tiến với nhà Nho nhưng lại là cổ lộ, lạc hậu với thực tế, với sự hiểu biết của lớp thanh niên yêu nước có tân học.

Vì lòng yêu nước thương dân các nhà Nho không ngần ngại lột xác, tự phê phán, sẵn sàng tiếp nhận cái văn minh phương Tây tuy xa lạ nhưng cũng mới lạ. Họ được mở rộng tầm nhìn và tri thức. Nhưng với cái vốn hiểu biết về văn minh, về khoa học, về tư tưởng, phương Tây được báo chí Trung quốc lúc đó giới thiệu, các cụ còn xa mới hiểu đúng nội dung thực.

Cuối cùng khi trở thành lạc lõng, họ trở nên cô độc, làm thơ tâm sự giãi bày nỗi uất ức, đi vào con đường xa lánh giữ khí tiết. Vô tình họ bước theo vết chân của các nhà Nho xưa.

Nhà Nho không vác thay được lá cờ tư tưởng của giai cấp tư sản mà trong lực lượng dân tộc lúc đó lại chưa có lực lượng giai cấp mới. Nho giáo làm vướng víu nghiêm trọng đến nhận thức của những người thực sự nhiệt thành yêu nước và duy tân thời đó.

V. Phan Bội Châu   

1. Phan Bội Châu nhà tư tưởng

Trong lịch sử dân tộc ta, Phan Bội Châu là người tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử; thời cận đại; thời cận đại ngắn ngủi, từ lúc thời trung cổ kết thúc (thế kỷ XIX) mà thời hiện đại chưa bắt đầu (1930). Phan Bội Châu là nhà yêu nước, nhà hoạt động chính trị, là một nhà thơ lớn. Ông cũng là nhà duy tân , cách mạng, muốn đưa đất nước theo kịp các nước văn minh, và vì vậy nhiều lần nhận ra cái sai lầm cũ của mình, tiếp thu cái mới, đi từ tư tưởng quân chủ lập hiến đến tư tưởng cộng hòa, đến chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận ra cái cũ và tiếp nhận cái mới làm cho ông trở thành nhà tư tưởng.

Là nhà Nho ở vùng nông thôn Nghệ Tĩnh Phan Bội Châu vào kinh đô Huế, gặp Nguyễn Thượng Hiền, gặp Nguyễn Thành, được đọc Tân thư bàn tính một chương trình cứu nước có quy mô toàn quốc, dựa vào chính Đảng, liên kết cầu viện nước ngoài. Từ 1905 đến 1925 trong môi trường Châu á đang sôi sục chống đế quốc. Phan Bội Châu làm quen với nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Với tầm nhìn và cách nhận thức của một nhà nho yêu nước, Phan Bội Châu đã xây dựng tư tưởng của mình từng bước. Tư tưởng Phan Bội Châu bao gồm cả tư tưởng chính trị-xã hội, tư tưởng mỹ học, tư tưởng triết học. Tư tưởng Phan Bội Châu tiêu biểu cho tư tưởng Việt Nam thời đó, đúng hơn là tiêu biểu cho chặng đường tất yếu từ thời trung cổ phương Đông tiến đến tư tương hiện đại.

2. Phan Bội Châu và tư tương yêu nước

Với Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo, Tân Việt Nam, Phan Bội Châu đã trình bày quan niệm mới về nước, về dân, về quan hệ nước và dân, phủ nhận tư tưởng yêu nước là trung nghĩa, quốc sử chỉ là gia sử. Với tư tưởng yêu nước mới Phan Bội Châu đề xướng đoàn kết dân tộc, nêu ra đạo lý làm người Việt Nam: yêu nước, căm thù giặc, không chịu làm nô lệ, đề xướng một chế độ cộng hoà của nhân dân…

Cách hiểu truyền thống dân tộc, con đường giành độc lập, phương hướng duy tân, chế độ cộng hoà của Phan Bội Châu có nhiều chỗ khác Phan Chu Trinh. Điều đó có? ý nghĩa lịch sử rất lớn.

3. Phan Bội Châu và các hệ tư tưởng truyền thông

Phan Bội Châu là nhà Nho nổi tiếng, chịu ảnh hưởng Nho giáo khá sâu sắc. Để kết hợp yêu nước và duy tân, Phan Bội Châu đã phải chia tay với đạo lý thánh hiền ở nhiều điểm. Nhưng trong quá trình tiếp nhận tư tưởng mới (dân chủ, xã hội chủ nghĩa) Phan Bội Châu đã phải nhìn lại và chịu không ít những ràng buộc với tư tưởng Nho giáo.

Vào những năm 30 Phan Bội Châu viết mấy tác phẩm có ý nghĩa đánh giá các hệ tư tưởng truyền thống; Khổng học đăng, Phật học đăng, Dịch kinh chú giải. Trong các tác phẩm đó ngoài? ý nghĩa trình bày giới thiệu các học thuyết ta cũng thấy rõ cách đưa nội dung yêu nước, duy tân vào các học thuyết cổ, cách sauy nghĩ, cách nhận thức của ông về các vấn đề tư tưởng.

4. Phan Bội Châu và chủ nghĩa xã hội

Phan Bội Châu có viết Chủ nghĩa xã hội, Nhân sinh triết học và trong một số bài thơ, truyện ngắn, theo ý của tác giả nói đến sự đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Đọc các tác phẩm ấy ta thấy rõ Phan Bội Châu đi từ tư tưởng bình quân của nông dân, tư tưởng Đại đồng của Nho gia đến chủ nghĩa xã hội thế nào.

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông cận hiện đại, Phúc Trạch Dụ Cát của Nhật Bản, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu của Trung Quốc và Phan Bội Châu của Việt Nam đã đi bằng bước chân của dân tộc mình mà đến thế giới hiện đại.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters