Hôm qua anh về
đưa cuốn sách tặng cậu con trai, nó lật giở vài trang rồi than: “Oài, sách gì
mà nhiều chữ thế này, con giả cho bố đấy”.
 |
| Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng |
Khách đến tham
dự hội thảo “Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử” mỗi người được tặng một cuốn “Lá cờ
thêu sáu chữ vàng” như một kỷ niệm đẹp nhân dịp tròn 100 năm ngày sinh của ông.
Ai cũng nâng niu cuốn sách chứa đựng nhiều tâm huyết của một nhà văn kiệt xuất
của văn học Việt Nam trong đề tài lịch sử. Nhưng sáng hôm sau, một anh bạn đồng
nghiệp buồn buồn kể với tôi: “Hôm qua anh về đưa cuốn sách tặng cậu con trai,
nó lật giở vài trang rồi than: “Oài, sách gì mà nhiều chữ thế này, con giả cho
bố đấy”.
Tôi biết con
trai anh, đó là một cậu bé hiền lành, mặt mũi khôi ngô sáng láng, đang là học
sinh cấp III. Những cậu bé cô bé thế hệ 9x, 10x chê sách truyện nhiều chữ, chỉ
thích đọc truyện tranh như cậu ở khắp đất nước này chắc là hằng hà sa số, gọi
chúng là “thế hệ truyện tranh” cũng không có gì phải băn khoăn, trăn trở. Có
thể chúng tiết kiệm thời gian, đọc truyện tranh cho nhanh, có thể chúng không
thích tưởng tượng, chỉ nhìn tranh vẽ và mớ chữ “bụp”, “chát”, “hự”, “ối”, “á”
là đủ. Cũng đừng hỏi lỗi tại ai, vì truyện tranh nhập ngoại và truyện tranh
hàng nội đua nhau in ra bày bán ê hề như thế, trẻ không mua thì ai tiêu thụ
cho.
Tự nhiên tôi
không muốn cũng trở thành người hoài cổ. Ký ức cứ trôi mãi về những năm tháng
tuổi thơ, tuần nào cũng nằn nì chị hàng xóm có thẻ cho đi theo lên thư viện
mượn sách vì tôi chưa đủ tuổi. Những năm ấy, ước ao mãnh liệt nhất của tôi là
mẹ tôi chuyển nghề thành thủ thư, bởi chỉ có thế thì tôi mới không phải run sợ
mỗi khi cô thủ thư cau mày trước đống sách cao ngất vượt qua hạn mức, không đắn
đo đến mức rối cả tim khi buộc phải chọn để lại cuốn nào, mang về cuốn nào.
Những năm tháng
thiên đường ấy, tôi đọc ngấu nghiến ở mọi lúc mọi nơi, tới mức nhiều lúc cũng
tự thấy mình mê muội đi vì sách. Nhưng có những khoảnh khắc không bao giờ quên
được, ấy là mỗi khi có những trang sách hay, mỗi dòng văn đẹp, là tôi lại xúc
động tới mức cảm thấy người run lên, ngừng lại không đọc được nữa. Rồi tôi áp
trang sách thật chặt vào lồng ngực gầy gò của mình, bởi một niềm tin mãnh liệt
và ngây thơ rằng, chỉ có cách ấy mới khiến cho tôi đến được gần hơn với thế
giới phía sau dòng chữ.
* *
*
Sự kiện 100 năm
ngày sinh nhà văn Nguyễn Huy Tưởng vào ngày 6.5 vừa qua khá chìm lặng, cũng như
cái hội thảo buổi sáng trước đó vài ngày, khán phòng cũng không quá đông đảo.
Kể cũng đúng thôi, vì dòng “thời sự chủ lưu” của mảng giải trí nhiều báo mấy
ngày nay đang là chuyện một cô người mẫu 9X nào đó bị nghi ngờ dính tới việc
đánh người. Nó câu khách nhiều hơn gấp vạn lần những ký ức đẹp đẽ, những lời
tôn vinh dành cho một nhà văn đáng kính chỉ có 48 năm ngắn ngủi trên dương thế
nhưng đã kịp xây nên biết bao tượng đài lịch sử cho văn học.
Ở tuổi đôi mươi,
khi mới bắt đầu đến với văn chương, Nguyễn Huy Tưởng đã viết trong nhật ký của
mình: “Phàm văn chương mục đích thứ nhất là để dạy dỗ thiếu niên, …. cốt làm
sao cho bao giờ họ cũng có một tấm lòng bồng bồng bột bột, mà vẫn biết lẽ phải,
và vẫn biết thương nhau”. Và bởi suy nghĩ “Người không biết lịch sử nước mình
là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được”
nên ông đã tự nhận cho mình nhiệm vụ của một “sử quan”. Chúng ta không khỏi
kinh ngạc khi biết rằng, chỉ từ 15 chữ trong từ Đại Việt sử ký toàn thư: “Khiển
nhân tống An Tư công chúa. Vu Thoát Hoan, dục thư quốc nan dã”(sai người đưa
công chúa An Tư đến chỗ Thoát Hoan, để cho nạn nước giảm đi) mà ông đã sáng tác
ra hơn 200 trang sách về An Tư công chúa làm lay động lòng người. Rồi “Đêm hội
Long Trì”, “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, “Cột đồng Mã Viện”, “Kể chuyện Quang
Trung”, “Lũy hoa”, “Bắc Sơn”, “Sống mãi với thủ đô”...
Và “Vũ Như Tô”,
phải xếp riêng “Vũ Như Tô” sang một trang khác, bởi chỉ với tác phẩm này, như
đánh giá của nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư, “Nguyễn Huy Tưởng đã sáng tạo ra một
bi kịch thực thụ sánh ngang với Eschyle, Sophocle, Shakespeare, Corneille,
Racine – mơ ước của hàng trăm, hàng ngàn người viết kịch trên thế giới trong ba
thế kỷ nay”. Nguyễn Huy Tưởng đã đặt trọn tình yêu của ông vào Vũ Như Tô tới
mức có cảm tưởng lời nói của nhân vật này đã nói thay cho ông: “Tôi sống với
Cửu Trùng đài chết cũng với Cửu Trùng đài... Hồn tôi để cả ở đấy thì tôi chạy
đi đâu”. Và trong lời đề từ tác phẩm của mình, nhà văn đã hai lần nhắc lại một
câu hỏi nhức nhối mãi mãi: “Chẳng biết Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô
phải?”.
Nếu hồn Vũ Như
Tô để cả ở Cửu Trùng đài thì hồn Nguyễn Huy Tưởng đã gửi trọn vào cho lịch sử
để rồi từ đó ông khẳng định mình không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà văn
hóa lớn với câu nói đã từng khiến ông có lúc khốn khổ: “Cuộc đời không phải chỉ
có cách mạng, mà còn có lịch sử, còn có cái âm vang truyền qua các thời đại,
những cái bây giờ tưởng là không dùng nữa, nhưng không có thì cuộc đời trở
thành trơ trẽn, lạnh lùng”.
Chỉ thương cho
lứa trẻ tiếp sau mình, làm sao chúng cảm được nỗi run bắn lên của bàn tay cậu
thiếu niên Hoài văn Hầu Trần Quốc Toản khi bóp nát quả cam ở bến Bình Than?
Phía sau lưng Hoài văn Hầu là một khoảng trống trơ trẽn, lạnh lùng, và gió thì
cứ hun hút thổi, không có vách núi nào để mà dội lại.
Mi An
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét