Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

14 thg 5, 2012

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX - Phần 1


LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX

(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)
Trần Đình Hượu


I. Độc tôn Nho giáo để giữ quốc gia thống nhất và củng cố chuyên chế
1. Một cục diện thống nhất từ trước chưa có

Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, làm chủ một đất nước từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Đó là lãnh thổ rộng lớn và thống nhất từ trước chưa bao giờ có. Không chỉ xóa bỏ sự chia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài, giữa đất đai của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, điều đã thực hiện dưới thời Tây Sơn mà Gia Định, Hà Tiên, trước đây Nguyễn Lữ đã để mất vào tay Nguyễn Ánh cũng đã nhập lại. Cảnh tượng thống nhất đất nước không chỉ gây cho nhân dân cả nước cảm giác về một kỷ nguyên thái bình thịnh trị mà gây cho triều đại cầm quyền một hào khí về sự hùng cường, kích thích tham vọng to lớn cho các vua đầu đời Nguyễn. Họ Nguyễn lên làm vua mang sẵn bản chất quý tộc, đại địa chủ, mặc cảm tội lỗi bán nước và thất tín, thất dân tâm nên có tâm lý nghi kỵ, nghi kỵ nhân dân và nghi kỵ vùng Đàng Ngoài. Qua một thời gian lâu dài bị chia cắt, đất nước tuy đã quy về một mối, nhưng vấn đề thống nhất chưa phải đã giải quyết xong. Các vua đầu đời Nguyễn nỗ lực tiến hành việc hợp nhất, áp đặt chính quyền tập trung chuyên chế, khuất phục nhân dân các vùng và xâm lược các nước láng giềng để gây thanh thế.

Những công việc mà Gia Long và Minh Mạng tiến hành như bỏ trấn lập tỉnh, giết công thần, đặt Nội các, ban bố Luật Gia Long, quy định các thể chế chính trị-xã hội. ..đều nhằm mục đích đó.

2. Độc tôn Nho giáo

Nhằm bảo vệ sự chuyên chế cực đa nghi, nhà Nguyễn sử dụng một bộ máy quan liêu to lớn, dùng Nho thần thay thế các công thần. Cho nên ngay từ đầu đã quan tâm mở rộng học và thi, quan tâm việc đề cao Nho giáo.

Trong mấy chục năm đầu đời Nguyễn, các vua hạ lệnh biên soạn nhiều công trình địa lý, lịch sử, giáo khoa khá đồ sộ. Ngoài ý nghĩa đóng góp lớn cho học thuật, tư tưởng của các bộ sách ấy là đề cao nội dung Đạo Lý Tống Nho. Các vua nhà Nguyễn cũng rất quan tâm đem tư tưởng Nho giáo cải tạo tư tưởng, tổ chức xã hội (ban bố Thập điều). Các Nho thần như Lý Văn Phức cũng theo tinh thần như vậy mà viết Nhị thập tứ hiếu.

Nho giáo thời Nguyễn phát đạt hơn các triều đại trước (số lượng người đi thi, người đậu đạt, số lượng sách vở…) nhưng cũng có khuynh hướng bảo thủ, khắc nghiệt hơn. Nho học ở nước ta vốn đã được truyền bá rộng rãi và lâu đời ở miền Bắc và phát triển theo hướng Đường Tống, từ chương nhiều hơn nghĩa lý. Xu hướng khảo chứng mới có từ cuối thể kỷ XVIII chủ yếu với Lê Quý Đôn và học trò chưa chiếm ưu thế. Ở miền Nam Nho học phát triển chậm hơn và hẹp hơn nhưng lại trực tiếp tiếp xúc với Nho học đời Thanh ở Trung Quốc bằng con đường Hoa kiều. Nhóm Gia định tam gia có ảnh hưởng nhiều đến Nho học đầu đời Nguyễnở Huế, đến các công trình học thuật đời Nguyễn có nguồn gốc học thuật tư tưởng như vậy. Tuy về sau số lượng các nhà Nho miền Bắc chiếm tỷ lệ áp đảo nhưng ý kiến tranh cãi xung quanh cái học từ chương và nghĩa lý, thực dụng và không đàm, học Đại toàn chứ không học Toản yếu…đều là muốn phát triển một thứ Nho học "thực học" nghĩa là có nội dung Tống Nho đầy đủ chứ không phải học để làm văn chương. Thứ Nho giáo nghĩa lý tủn mủn, trung hiếu khắt khe như vậy không chỉ chi phối đám vua quan trong triều đình mà cả các bậc đại sư ở các địa phương, những người đào tạo ra nhiều ông nghè, ông cống, những người về mặt con người xứng đáng có những uy vọng lớn. Nội dung các bài bàn luận về học thuật cũng như nội dung các văn tập thời đó đều là như vậy. Và học để thi Tiến sĩ nên cũng không thể nào khắc phục được khuynh hướng từ chương.

3. Phản ứng với chế độ chuyên chế và Nho giáo khắc nghiệt

Tư tưởng chống đối với chế độ chuyên chế và Nho giáo khắc nghiệt không xuất hiện trong nghị luận của các nhà tư tưởng mà xuất hiện trong văn học. ở thế kỷ XVIII trong ngâm khúc và truyện nôm đã xuất hiện một khuynh hướng nhân đạo chủ nghĩa, chống lễ giáo, đòi hỏi giải phóng cá nhân. Đến đây xu hướng đó lại phát triển cao hơn trong Truyện Kiều  và thơ Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ  đầu tiên là người say mê với nghĩa quân thân, với hào khí nam nhi, say sưa cổ vũ và ra sức phục vụ cho những giáo điều Tống Nho, cho chế độ chuyên chế, nhưng cuối cùng tỉnh ngộ, phẫn uất tố cáo ông Trời hay đố kỵ "trẻ không thương mà già cũng không tha". Cao Bá Quát trẻ hơn cũng hăng hái nhập thế bằng con đường học vấn, cuối cùng cũng uất ức tố cáo thực tế xấu xa đến nỗi nổi lên "làm loạn". Trong những bài hát nói phóng túng của hai người ta có thể đọc được bản tụng ca về tự do, về cá nhân, về thú vui. Khuynh hướng tư tưởng như vậy tạo ra những con người như Nguyễn Quý Tân, Ông ích Khiêm, Nguyễn Hàm Ninh, thời đó rất được hâm mộ. Họ phê phán Trời, Mệnh, giải thích những bất công bằng Nghiệp, nghĩa là vẫn loanh quanh tìm lời giải đáp trong khuôn khổ Tam giáo nhưng rõ ràng là bất bình với không khí ngột ngạt khó thở của thực tế.


Dẫn theo:  http://triethoc.edu.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters