LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
(ĐỀ CƯƠNG CHI
TIẾT)
Trần Đình Hượu
I. Độc tôn Nho
giáo để giữ quốc gia thống nhất và củng cố chuyên chế
1. Một cục diện
thống nhất từ trước chưa có
Nguyễn Ánh đánh
bại Tây Sơn, làm chủ một đất nước từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Đó là lãnh thổ rộng
lớn và thống nhất từ trước chưa bao giờ có. Không chỉ xóa bỏ sự chia cắt Đàng
Trong và Đàng Ngoài, giữa đất đai của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, điều đã thực
hiện dưới thời Tây Sơn mà Gia Định, Hà Tiên, trước đây Nguyễn Lữ đã để mất vào
tay Nguyễn Ánh cũng đã nhập lại. Cảnh tượng thống nhất đất nước không chỉ gây
cho nhân dân cả nước cảm giác về một kỷ nguyên thái bình thịnh trị mà gây cho
triều đại cầm quyền một hào khí về sự hùng cường, kích thích tham vọng to lớn
cho các vua đầu đời Nguyễn. Họ Nguyễn lên làm vua mang sẵn bản chất quý tộc,
đại địa chủ, mặc cảm tội lỗi bán nước và thất tín, thất dân tâm nên có tâm lý
nghi kỵ, nghi kỵ nhân dân và nghi kỵ vùng Đàng Ngoài. Qua một thời gian lâu dài
bị chia cắt, đất nước tuy đã quy về một mối, nhưng vấn đề thống nhất chưa phải
đã giải quyết xong. Các vua đầu đời Nguyễn nỗ lực tiến hành việc hợp nhất, áp
đặt chính quyền tập trung chuyên chế, khuất phục nhân dân các vùng và xâm lược
các nước láng giềng để gây thanh thế.
Những công việc
mà Gia Long và Minh Mạng tiến hành như bỏ trấn lập tỉnh, giết công thần, đặt
Nội các, ban bố Luật Gia Long, quy định các thể chế chính trị-xã hội. ..đều
nhằm mục đích đó.
2. Độc tôn Nho
giáo
Nhằm bảo vệ sự
chuyên chế cực đa nghi, nhà Nguyễn sử dụng một bộ máy quan liêu to lớn, dùng
Nho thần thay thế các công thần. Cho nên ngay từ đầu đã quan tâm mở rộng học và
thi, quan tâm việc đề cao Nho giáo.
Trong mấy chục
năm đầu đời Nguyễn, các vua hạ lệnh biên soạn nhiều công trình địa lý, lịch sử,
giáo khoa khá đồ sộ. Ngoài ý nghĩa đóng góp lớn cho học thuật, tư tưởng của các
bộ sách ấy là đề cao nội dung Đạo Lý Tống Nho. Các vua nhà Nguyễn cũng rất quan
tâm đem tư tưởng Nho giáo cải tạo tư tưởng, tổ chức xã hội (ban bố Thập điều).
Các Nho thần như Lý Văn Phức cũng theo tinh thần như vậy mà viết Nhị thập tứ
hiếu.
Nho giáo thời
Nguyễn phát đạt hơn các triều đại trước (số lượng người đi thi, người đậu đạt,
số lượng sách vở…) nhưng cũng có khuynh hướng bảo thủ, khắc nghiệt hơn. Nho học
ở nước ta vốn đã được truyền bá rộng rãi và lâu đời ở miền Bắc và phát triển
theo hướng Đường Tống, từ chương nhiều hơn nghĩa lý. Xu hướng khảo chứng mới có
từ cuối thể kỷ XVIII chủ yếu với Lê Quý Đôn và học trò chưa chiếm ưu thế. Ở
miền Nam Nho học phát triển chậm hơn và hẹp hơn nhưng lại trực tiếp tiếp xúc
với Nho học đời Thanh ở Trung Quốc bằng con đường Hoa kiều. Nhóm Gia định tam
gia có ảnh hưởng nhiều đến Nho học đầu đời Nguyễnở Huế, đến các công trình học
thuật đời Nguyễn có nguồn gốc học thuật tư tưởng như vậy. Tuy về sau số lượng các
nhà Nho miền Bắc chiếm tỷ lệ áp đảo nhưng ý kiến tranh cãi xung quanh cái học
từ chương và nghĩa lý, thực dụng và không đàm, học Đại toàn chứ không học Toản
yếu…đều là muốn phát triển một thứ Nho học "thực học" nghĩa là có nội
dung Tống Nho đầy đủ chứ không phải học để làm văn chương. Thứ Nho giáo nghĩa
lý tủn mủn, trung hiếu khắt khe như vậy không chỉ chi phối đám vua quan trong
triều đình mà cả các bậc đại sư ở các địa phương, những người đào tạo ra nhiều
ông nghè, ông cống, những người về mặt con người xứng đáng có những uy vọng
lớn. Nội dung các bài bàn luận về học thuật cũng như nội dung các văn tập thời
đó đều là như vậy. Và học để thi Tiến sĩ nên cũng không thể nào khắc phục được
khuynh hướng từ chương.
3. Phản ứng với
chế độ chuyên chế và Nho giáo khắc nghiệt
Tư tưởng chống
đối với chế độ chuyên chế và Nho giáo khắc nghiệt không xuất hiện trong nghị
luận của các nhà tư tưởng mà xuất hiện trong văn học. ở thế kỷ XVIII trong ngâm
khúc và truyện nôm đã xuất hiện một khuynh hướng nhân đạo chủ nghĩa, chống
lễ giáo, đòi hỏi giải phóng cá nhân. Đến đây xu hướng đó lại phát triển cao hơn
trong Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ đầu tiên là
người say mê với nghĩa quân thân, với hào khí nam nhi, say sưa cổ vũ và ra sức
phục vụ cho những giáo điều Tống Nho, cho chế độ chuyên chế, nhưng cuối cùng
tỉnh ngộ, phẫn uất tố cáo ông Trời hay đố kỵ "trẻ không thương mà già cũng
không tha". Cao Bá Quát trẻ hơn cũng hăng hái nhập thế bằng con đường học
vấn, cuối cùng cũng uất ức tố cáo thực tế xấu xa đến nỗi nổi lên "làm
loạn". Trong những bài hát nói phóng túng của hai người ta có thể đọc được
bản tụng ca về tự do, về cá nhân, về thú vui. Khuynh hướng tư tưởng như vậy tạo
ra những con người như Nguyễn Quý Tân, Ông ích Khiêm, Nguyễn Hàm Ninh, thời đó
rất được hâm mộ. Họ phê phán Trời, Mệnh, giải thích những bất công bằng Nghiệp,
nghĩa là vẫn loanh quanh tìm lời giải đáp trong khuôn khổ Tam giáo nhưng rõ
ràng là bất bình với không khí ngột ngạt khó thở của thực tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét