Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn
Bộ Môn Khoa Học Chính Trị
Bài Tập Lớn
Môn : Chính Trị Học So Sánh
Giảng Viên : PGS.TS. Phạm Quang Minh
Những người thực hiện:
Nhóm 1:
Nguyễn Trung Thành
Lê Cảnh Thuận
Phùng Văn Nguyên
Nguyễn Thanh Hải
Nguyễn Thị Thoa
Hoàng Nghĩa Thành
Nguyễn Anh Đức
Hà Đức
Cù Văn Trung
Hồ Xuân Kiên.
Hà Nội, 2010.
SO SÁNH QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ CỦA NĂM NƯỚC HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC VỀ VẤN ĐỀ HẠT NHÂN Ở BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VỚI VẤN ĐỀ HẠT NHÂN Ở
A. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài :
Hiện nay,trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong các cuộc hội đàm khu vực và quốc tế thì vấn đề hạt nhân đã trở thành một vấn đề vô cùng nống hổi và rất quan trọng.Từ sau thế chiến II đến nay thì việc sử dụng hạt nhân đã được các quốc gia tiến hành nghiên cứu và sử dụng,một mặt vì mục đích hòa bình nhưng mặt khác có một số quốc gia lại lạm dụng hạt nhân vào mục đích quân sự làm ảnh hưởng đến nền hòa bình của thế giới.Hiện nay trên thế giới có tới 9 quốc gia sở hữu vũ khí nguyên tử ( gồm có 5 nước thành viên hội đồng bảo an, Ấn Độ, Pakistan, Israel và Bắc triều tiên), 13 nước có công nghệ làm giàu Uranium, 25 quốc gia đang vận hành 440 lò phản ứng hạt nhân các loại, khoảng 30 đến 40 nước nắm được bí quyết làm vũ khí hạt nhân.
Có thể thấy, vấn đề phát triển hạt nhân đang đặt ra thách thức lớn đối với nền hòa bình của nhân loại, do đó đễ giữ vững sự phát triển và bảo vệ nền hòa bình của nhân loại thì đòi hỏi tất cả các quốc gia phải chung tay, nói lên những tiếng nói tích cực, thể hiện được quan điểm chính trị của quốc gia mình. Thực chất, đằng sau vấn đề hạt nhân thì nó đụng chạm tới lợi ích của tất cà các quốc gia,đặc biệt là các cường quốc lớn.Hiện nay, với vai trò là tổ chức quốc tế rộng lớn, Liên Hợp Quốc đã đóng những vai trò tích cực trong vấn đề này,trong đó các nước thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An đã thể hiện được tiếng nói rất quan trọng,có ảnh hưởng sâu sắc tới vấn đề phát triển hạt nhân. Gần đây, một vấn đề nóng bỏng, một chủ đề được dư luận nói tới rất nhiều đó là vấn đề phát triển hạt nhân ở
Đứng trước tình hình đó,thì các thành viên trong hội đồng thường trực Hội Đồng Bảo An đã có những thái độ, hành động khác nhau xung quanh vấn đề nóng bỏng này. Vì lẽ đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài "so sánh quan điểm chính trị của các nước P5 đối với vấn đề hạt nhân ở
2. Tình hình nghiên cứu :
Từ trước tới nay vấn đè hạt nhân luôn là vấn đề nóng bỏng và mang tính thời sự sâu sắc. Vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hạt nhân được cac nhà nghiên cứu cũng như các học giả trong và ngoài nước quan tâm rất nhiều. Đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây, cùng với xu hướng toàn cầu hóa diễn ra một cách mạnh mẽ và tác động rất lớn tới các quốc gia,châu lục thì vấn đề hạt nhân lại trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Đặc biệt là vấn đề giải giáp hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và
Xung quanh vấn đề này nhiều học giả,nhà nghiên cứu đã có những công trình bàn luận đến vấn đề này.
PGS.TS Trình Mưu và TS.Vũ Quang Vinh trong cuốn sách "quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI-vấn đề,sự kiện và quan điểm" cũng đã đề cập đến vấn đề hạt nhân hiện nay và cũng nêu lên được quan điểm của một số nước về vấn đề này.hay nhà nghiên cứu Lê văn Mỹ với bài viết "vai trò của Trung Quốc và Mỹ với việc giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên”. Tác giả đã nêu lên được cách nhìn nhận, đánh giá, quan điểm chính trị của hai cường quốc về vấn đề phát triển hạt nhân ở Triều tiên.
Bên cạnh đó thì TS.Đinh Quý Độ cũng có bài viết về "chính sách của Mỹ đối với vấn đề hạt nhân ở
Nhìn chung qua các công trình nghiên cứu và các bài viết thì các tác giả đã nêu lên được thực trạng về vần đề hạt nhân ở 2 quốc gia này và nêu lên được quan điểm chính trị của một số quốc gia về vấn đề hạt nhân ở Iran và Triều Tiên. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nói về quan điểm chính trị của 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An về vấn đề này. Vì vậy, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài so sánh quan điểm chính trị của 5 nước Hội Đồng Bảo An về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân ở
3. Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài này nhóm chúng tôi muốn làm nổi bật lên được quan điểm chung của P5 và quan điểm chính trị riêng của các nước thành viên trong đó về vấn đề phát triển hạt nhân ở
4. Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu
Nhóm chúng tôi muốn nghiên cứu thái độ cũng như hành động, động thái chính trị của 5 nước thành viên Hội Đồng Bảo An về vấn đề hạt nhân ở
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài có sử dung các phương pháp phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh . . .
6. Đóng góp của đề tài :
Với đề tài này, thì nhóm chúng tôi muốn góp phần làm sang tỏ một số vấn đề lí luận và quan điểm chính trị của 5 nước đối với vấn đề hạt nhân hiện nay ở Triều Tiên và
7. Kết cấu đề tài :
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,đề tài nhóm chúng tôi gồm 3 phần:
· Phần 1:Tổng quan về vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên và
· Phần 2:So sánh quan điểm chính trị của các nước thường trực hội đồng bảo an vè vần đề hạt nhân ở bán đảo Triều tiên và vấn đề hạt nhân ở
B. Phần nội dung:
I. Tổng quan về vấn đề hạt nhân và vấn đề đặt ra:
1.1. Tổng quan về vấn đề hạt nhân:
Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 việc phát hiện ra năng lượng nguyên tử đã mở ra một chiều cạnh hoàn toàn mới trong quan hệ quốc tế. Do tàng trữ một sức mạnh to lớn ( 1kg U235 nếu phân hạch hoàn toàn có thể giải phóng môt năng lượng tương đương 20.000 tấn thuốc nổ TNT) nên việc làm chủ nguồn năng lượng này có thể làm gia tăng nhảy vọt sức mạnh quốc gia, cả về tiềm lực kinh tế, khả năng quốc phòng lẫn tinh thần dân tộc và uy tín quốc tế, khác với các loại vũ khí khác thông thường hạt nhân có thể làm đảo lộn tương quan lực lượng và cân bằng chiến lược, trở thành công cụ răn đe hiệu quả cho phép bên bị áp đảo về sức mạnh thông thường có thể gây đe dọa không thể chịu đựng được cho đối phương. Tuy nhiên mặt trái của tham vọng hạt nhân không chỉ là sự tiêu tốn những nguồn lực khổng lồ, mà còn kích động các chủ thể sở hữu hạt nhân trở nên liều lĩnh.
Các ngưỡng vât lý trong công nghệ hạt nhân đặt các quốc gia theo đuổ nguồn năng lượng này trước các ngưỡn giới han về mặt chiến lược.
Ngưỡng 1: Không trược tiếp làm giàu hạt nhân
Ngưỡng 2: Làm giàu hạt nhân dân sự (dưới 5%)
Ngưỡng 3: Đủ để sản xuất thiết bị nổ (từ 20%)
Ngưỡng 4: Đủ để vận hành các lò phản ứng nhẹ (từ 5%)
Ngưỡng 5: Làm giàu hạt nhân quân sự (từ 90%)
Việc một chủ thể nhà nước hay phi nhà nước tiến tới bất kì ngưỡng hạt nhân chiến lược nào đều gây xáo trộn nghiêm trọng cấu hình quan hệ quốc tế hay thực chất là những giao động, phát sinh do sự cân bằng các tiềm năng mới và những rẽ nhánh tương ứng trên quỹ đạo quan hệ quốc tế dẫn tới các trạng thái này trong khi thế cân bằng cũ vẫn chạy theo quán tính, trên thực tế diễn ra phản ứng dây truyền về điều chỉnh chính sách đối ngoại hành loạt quốc gia từ một phía chủ thể phát triển hạt nhân phải tái định hướng các quan hệ đối ngoại để đáp ứng một loại yêu cầu mới liên quan tới việc bảo đảm nguồn nguyên liệu phân hạch công nghệ nguyên tử, đào tạo chuyên gia, xử lý chất thải, vũ khí bảo vệ…. Từ phía khác, các nước lớn muốn giữ nguyên trang buộc phải có các biện pháp kiềm chế, trong khi một số nước khác lại muốn lợi dụng tình hình để "đục nước béo cò". Chuyển dịch của các nước lớn tất yếu kéo theo chuỗi phản ứng của các nước nhỏ hơn trước khi một thế cân bằng mới được xác lập.
Vì vậy ta có thể thấy việc phát triển hạt nhân là điều đáng chú ý cho tất cả các quốc gia trong mọi thời đại nó ảnh hưởng tới hòa bình của nhân loại. Do đó để giữ vững sự phát triển và và bảo vệ nền hòa bình đòi hỏi tất cả các quốc gia phải có những vai trò tích cực, lên án và ngăn chặn các chương trình phát triển hạt nhân mà đặc biệt là thái độ cũng như vai trò của các thành viên thường trực Hội đồng bảo an liên hợp quốc. Hiện nay, một vấn đề mang tính thời sự mà dư luận đưa ra rất nhiều, đó là vấn đề phát triển hạt nhân ở Triều Tiên va
1.2. Vấn đề đặt ra cho P5:
Thực tế hiện nay ở Triều tiên và
Nếu như việc phát triển hạt nhân ở Triều Tiên và Iran được tiến hành và sử dụng vào mục đích hòa bình, tạo ra năng lượng thì có thể giúp Triều Tiên và Iran phát triển, vấn đề năng lượng xẽ được giải quyết.
Tuy nhiên nếu như Triều Tiên và
Hiện nay với một lượng hạt nhân lớn hơn thì sức công phá của nó có thể hủy diệt toàn bộ nhân loại chỉ trong thời gian ngắn, việc phát triển hạt nhân quân sự sẽ làm ảnh hưởng đến sự sống của con ngươì và sinh vật trên trái đất này. Vì vậy vấn đề được đặt ra là đòi hỏi các quốc gia đặc biệt la các nước thành viên P5 cần phải có những thái độ hành động, quan điểm chính trị của mình đối với vấn đề này, để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của nhân loại.
2. Vấn đề hạt nhân ở Triền Tiên:
Một câu hỏi được đặt ra là: nguyên nhân nào dẫn đến khủng hoảng và vì sao cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên quyết tâm theo đuổi chương trình hạt nhân của mình?
Thứ nhất: kể từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay, quan hệ giữa CHDCND Triều Tiên và Mỹ luôn trong tình trạng thù địch. Trong những năm gần đây do các hoạt động quân sự mà Mỹ thực hiện ở nột số nơi trên thế giới khá thuận lợi, như ở Panama, Nam Tư, Ápganixtan và Iraq, máu nóng của Mỹ ngày càng được hâm nóng thêm, Ngay cả ý tưởng tấn công quân sự CHDCND Triều Tiên như thế nào cũng được những nhà hoạch định chính sách Mỹ Soạn thảo và công khai trong tầng quyết sách Mỹ
Trước những mưu đồ và mục đích của Mỹ, CHDCND Triều Tiên đã cảm nhận được “Không khí chiến tranh” của Mỹ đang ngày càng o ép họ. Vì thế họ cho rằng thực lực quân sự là "bức tường" ngăn chặn tốt nhất và vũ khí hạt nhân là công cụ hữu hiệu duy nhất để họ chặn đứng âm mưu xâm lược của Mỹ.
Thứ hai: Từ những năm 70 của thế kỉ 20 kinh tế CHDCND Triều Tiên đạt được những thành công nhất định được hưởng lợi nhờ nhu cầu than tăng đột biến do cuộc chiến tranh trung Đông (1973), CHDCND Triều Tiên có thêm điều kiện vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế. Tuy nhiên mọi việc thay đổi nhanh chóng, than mất giá trong khi giá dầu tăng nhanh đã tác động xấu đến chiến lược phát triển kinh tế của CHDCND Triều Tiên. CHDCND triều Tiên không có khẳ năng thanh toán nợ nước ngoài, thu nhập quốc dân giảm trung binh 4%/năm , trong điều kiện đó, khẩu hiệu “ ưu tiên chính trị - quân sự” với việc giành 25% - 30% tổng sản phẩm quốc nội ( GDP ) cho phát triển quân sự không được đáp ứng, cán cân quân sự giữa hai miền Nam – Bắc tiếp tục rơi vào thế bất lợi cho CHDCND triều Tiên. Thêm vào đó sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Nga và Trung Quốc không còn đóng vai trò cung cấp ưu đãi vũ khí cho Bình Nhưỡng. Để giải quyết mối nguy hiểm trên, điều duy nhất mà chính quyền Bình Nhưỡng có thể làm là tiếp tục theo đuổi chương trình phát triển tên lửa đạn đạo và vũ khí hạt nhân với 2 mục đích đảm bảo khả năng phòng thủ và răn đe cần thiết, đồng thời có thể bán các kỹ thuật tên lửa cho các nước có nhu cầu nhằm thu lợi nhuận về kinh tế. Hơn nữa Bình Nhưỡng đã nhìn thấy rõ thực tế của cuộc chiến tranh Nam Tư và I-Rắc, cho dù CHDCND Triều Tiên “nhịn ăn nhịn uống’’ để tập trung sức mạnh quốc gia cho phát triển lực lượng quân sự, thì sức mạnh quân sự thông thường của CHDCND Triều Tiên cũng không thể đủ để có một sự ngăn chặn quyết định với mưu đồ chiến tranh của Mỹ. Do Vậy, chỉ có vũ khi hạt nhân và công cụ chuyên chở hiện đại là điều kiện duy nhất có thể chặn đứng cỗ xe chiến tranh của Mỹ. Dây là một nguyên nhân căn bản để CHDCND Triều Tiên thử vũ khí hạt nhân.
Thứ ba: sự sụp đổ của chính quyền Saddam Husein sau sự thất bại của cuộc chiến tranh I-rắc năm 2003 chỉ vì nước này không có vũ khí hạt nhân là điều mà giới lãnh đạo CHDCND Triều Tiên đã nghiêm túc rút kinh nghiêm. Trong khi đó, chính quyền Bush lại công khai liệt CHDCND Triều Tiên vào trục ma quỷ (cung với I-ran ) đã khiến chính quyền bình nhưỡng phải nghĩ đến biện pháp, khả năng phòng thủ đất nước. Bình nhưỡng cho rằng, sở hữu vũ khí hạt nhân tức là sở hữu được sức mạnh mang tính chính trị. Vũ khí hạt nhân xẽ cho phép CHDCND Triều Tiên tăng cường vị thế của mình trong khu vực Đông Á, bị kẹp giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên cảm thấy bị bao vây và bị tước mọi khả năng hành động, chỉ khi nào nước này sở hữu vũ khí hạt nhân thật sự mới có thể làm Xơ-un và Tokyo nể sợ, đồng thời, đồng thời cũng là cách để họ cảnh cáo Mỹ.
Thứ tư: CHDCND Triều Tiên đẵ nắm lấy thời cơ khi Mỹ đang chuẩn bị tiến hành cuộc chiến tranh I-rắc khơi ra vấn đề hạt nhân. Mục đích của Bình Nhưỡng nhằm loại bỏ sức ép đòi thanh sát vũ khí hủy diệt mà Mỹ và phương tây đang áp dụng với I-rắc và một số nước khác. Năm 2002 trước sức ép của Mỹ và phương tây cùng với những khó khăn về kinh tế, năng lượng trong nước, CHDCND Triều Tiên đã vận dụng sách lược “ngoại dao hạt nhân” bằng việc tiếp tục diễn xuất màn kịch khủng hoảng hạt nhân lần hai, với việc tiết lộ chương trình làm giàu Urannium, rồi tiếp đến là thử vũ khí hạt nhân buộc 6 nước liên quan ngồi vào bàn đàm phán để cân nhác thiệt hơn, viện chợ choCHDCND Triều Tiên đồng thời mở ra cơ hội cho việc đối thoại giữa họ với Mỹ giảm bớt sự đe doa của Mỹ lên vấn đề an ninh của họ.
3. Vấn đề hạt nhân ở I-ran:
Từ những năm 1960, trước khi xảy ra cuộc cách mạng Hồi giáo,
Ở đây có một vấn đề đặt ra là tại sao I ran muốn nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân và ý đồ thực sự của I ran là gì? Theo nhà cầm quyền
II. So sánh quan điểm chính trị của 5 nước HĐBA LHQ về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân ở Iran hiện nay.
1. So sánh quan điểm chính trị của HĐBA LHQ về vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên với vấn đề hạt nhân ở
1.1. Quan điểm của HĐBA LHQ về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên hiện nay:
Ngày 9/10/2006, HĐBA LHQ đã thông qua nghị quyết 1718 về việc cấm Triều Tiên tiến hành các vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Tuy nhiên, nước này vẫn thực hiện vụ thử tên lửa lần thứ hai vào ngày 25/5/2009. Và Nghị quyết 1874 của HĐBA LHQ được HĐBA LHQ nhất trí thông qua vào ngày 12/06/2009. Nghị quyết này phải thể hiện theo chương 7, điều 41 của Hiến chương LHQ, thi hành sự trừng phạt về kinh tế và thương mại đối với Bắc Triều Tiên và khuyến khích các quốc gai thành viên của LHQ lục soát tàu hàng của Bắc Triều Tiên, sau vụ thử hạt nhân dưới lòng đát do nước này thực hiện vào ngày 25/5/2009.
1.2. Quan điểm của HĐBA LHQ về vấn đề hạt nhân ở
Từ tháng 12/2006 đến tháng 3/2008, HĐBA LHQ đã thông qua các Nghị quyết 1737, 1747 và 1803 áp đặt các biện pháp trừng phạt ở nhiều mức độ khác nhau đối với Iran.
1.3. So sánh hai quan điểm chính trị trên của HĐBA LHQ:
Với tư cách là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên Hiệp Quốc, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân của 2 nước Iran và Triều Tiên hiện nay, đồng thời đưa ra những động thái tích cực nhằm duy trì hoà bình, an ninh quốc tế về vấn đề hạt nhân, đăc biệt là tiếng nói của 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an LHQ(P5).
Trước việc Mỹ và Phương Tây cáo buộc Iran bí mật sản xuất vũ khí hạt nhân dưới vỏ bọc một chương trình hạt nhân dân sự, Triều Tiên là nước “có vũ khí hạt nhân”, đồng thời là những chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của 2 nước này thì nhóm P5 đã và đang có những động thái tích cực không chỉ thể hiện vai trò và chức năng của mình trong vấn đề bảo vệ an ninh thế giới mà còn thể hiện được những quan điểm, tiếng nói của mình trước vấn đề này.
Với vai trò của một cơ quan quốc tế, nhìn chung các giải pháp và động thái của nhóm P5 chủ yếu dựa trên phương pháp đối thoại một cách hoà bình, cụ thể là:
Ngày 9/10/2006, HDDBA LHQ đã thông qua nghị quyết 1718 về việc cấm Triều Tiên tiến hành các vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Tuy nhiên, nước này vẫn thực hiện vụ thử tên lửa lần thứ hai vào ngày 25/5/2009.
Nghị quyết 1874 của HĐBA LHQ được HĐBA LHQ nhất trí thông qua vào ngày 12/06/2009. Nghị quyết này phải thể hiện theo chương 7, điều 41 của Hiến chương LHQ, thi hành sự trừng phạt về kinh tế và thương mại đối với Bắc Triều Tiên và khuyến khích các quốc gai thành viên của LHQ lục soát tàu hàng của Bắc Triều Tiên, sau vụ thử hạt nhân dưới lòng đát do nước này thực hiện vào ngày 25/5/2009.
Cùng với đó là việc áp dụng lệnh trừng phạt đối với
Cùng với rất nhiều các cuộc hội đàm của P5 trong những năm gần đây thì thực sự P5 đã và đang theo đuổi quan điểm là hướng tới những biện pháp giải quyết mang tính đối thoại hoà bình, còn việc đưa ra những động thái khác nhau của mỗi thành viên trong P5 lại phụ thuộc vào chính sách của từng nước riêng, nó phụ thuộc vào từng hoàn cảnh ngoại giao và lợi ích của các quốc gia này.
1.4. Quan điểm của p5+1 về vấn đề hạt nhân của Iran và quan điểm của p5+2 về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, những góc nhìn.
Khi nhắc đến khả năng giải quyết vấn đề hạt nhân của nước Cộng hòa hồi giáo
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức cho hãng tin AFP biết đại diện của 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (LHQ) là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp cùng với Đức (gọi tắt là nhóm P5+1) sẽ gặp nhau ở gần Frankfurt, Đức. Các nguồn tin ngoại giao cho biết triển vọng về bất kỳ kết quả cụ thể nào tại cuộc gặp nói trên là không cao. Ngoài ra, theo hãng tin AP, nhóm P5+1 cũng đang bàn về khả năng sẽ tổ chức một cuộc gặp cấp cao bên lề cuộc họp của Đại hội đồng LHQ diễn ra ở New York (Mỹ) vàothời điểm thích hợp.
Cuộc gặp ở Đức diễn ra một ngày sau khi ông Saeed Jalili, trưởng đoàn đàm phán hạt nhân của Iran, cho biết nước này đã cập nhật gói đề xuất của mình và sẵn sàng tham dự các cuộc đàm phán mới với nhóm P5+1. Trước đó, vào tuần rồi, một báo cáo của Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA) cho biết Iran đã làm chậm lại việc sản xuất uranium làm giàu và đồng ý để cơ sở của mình được giám sát chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, Nhà Trắng cho biết Mỹ không nhận thông báo chính thức nào từ
Trong bài phát biểu lịch sử trước Quốc hội Mỹ ngày hôm qua (3/11), Thủ tướng Đức Angela Merkel cho biết
“
Các nghị sĩ Quốc hội Mỹ đã vỗ tay tán dương khi bà Merkel tuyên bố: “Bất kỳ ai đe dọa tới
Hiện nay, Thủ tướng Merkel đang ở thăm Mỹ 2 ngày. Chuyến thăm được tiến hành sau khi bà Merkel chính thức nhậm chức Thủ tướng Đức nhiệm kỳ 2.[1]
Từ những phát biểu trên của bà Mekel, chúng ta thấy rằng Đức cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm của hội đồng bảo an hiện nay. Đó là một nước
Bên cạnh đó về vấn đề hạt nhân của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên ngoài vai trò của năm nước thường trực(p5) thì nổi lên là vai trò của Hàn Quốc và Nhật Bản.
Nếu như, Hạ viện Nhật Bản đã nhất trí thông qua nghị quyết yêu cầu Chính phủ Nhật Bản có lập trường kiên quyết và cứng rắn hơn đối với Triều Tiên như thắt chặt các biện pháp cấm vận kinh tế đối với nước này. Nhật Bản hôm 26/5 đã quyết định ngừng hoàn toàn các hoạt động xuất khẩu sang Triều Tiên, một động thái dường như đang muốn làm nổi bật quan điểm "cứng rắn" của
Thì ở Hàn Quốc cũng có luồng dư luận hối thúc Chính phủ Hàn Quốc theo đuổi "các biện pháp quân sự mạnh mẽ" và áp đặt các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Triều Tiên.
Giới phân tích cho rằng ở “góc độ trừng phạt”, các cuộc tấn công quân sự phải được loại trừ vì khả năng Bình Nhưỡng phản ứng với Nhật Bản và Hàn Quốc thậm chí cả bằng vũ khí hạt nhân. Những biện pháp trừng phạt kinh tế cũng chỉ có tác dụng hạn chế khi Triều Tiên đang bị cô lập về tài chính. Trong khi đó, nhiều ý kiến cho rằng các biện pháp trừng phạt chống lại Bình Nhưỡng sẽ chỉ khiến căng thẳng leo thang.
Tuy nhiên, ngoại trưởng Hàn Quốc Yu Myung-hwan nói rằng Xơun sẽ tiếp tục nỗ lực nhằm đưa Triều Tiên trở lại bàn thương lượng bất chấp việc nước này vừa thử hạt nhân thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các đối tác của Bình Nhưỡng. “Chúng ta cần để ngỏ cửa đối thoại với Triều Tiên", ông nói[2].
Điều ấy chứng tỏ rằng Hàn Quốc, tuy rất gay gắt với Triều Tiên trong vấn đề hạt nhân, nhưng vẫn luôn duy trì khả năng đàm phán hòa bình.
Như thế, chúng ta có thể có một đánh giá khách quan rằng:
Dù là quan điểm của p5+1 về vấn đề hạt nhân Iran hay là quan điểm của p5+2 về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên thì đều có một mẫu số chung đó chính là, luôn để ngỏ về một lộ trình đàm phán và những biện pháp trừng phạt sẽ luôn là một con bài để mặc cả.
Sự khác nhau về các bên giải quyết chỉ nói lên tính lợi ích trong khu vực, chứ hai vấn đề này không tách rời nhau quá xa trong phương hướng giải quyết. nó vẫn nằm trong một lộ trình của thời đại.
2. So sánh quan điểm chính trị của 5 nước HĐBA LHQ về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân ở Iran hiện nay:
2.1. Quan điểm của Mỹ:
2.1.1. Về vấn đề hạt nhân ở
Quan điểm của Mỹ là không chấp nhận
Thứ nhất, Mỹ phải bảo vệ lợi ích chiến lược và vị trí chủ đạo duy nhất của mình tại khu vực Trung Đông. Bởi vì Trung Đông là trung tâm sản xuất năng lượng trên thế giới và có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Việc Mỹ không muốn thấy có một nước lớn trong khu vực có xu hướng đối đầu với Mỹ, mà Iran lại là một nước như vậy. Hơn nữa, tên lửa của
Thứ hai, Mỹ muốn đáp trả và chấm dứt những yêu sách của chính quyền Hồi giáo
Thứ ba, Mỹ muốn thông qua vấn đề hạt nhân ở
Mỹ cũng nhận thấy tính chất nguy hiểm của việc phổ biễn vũ khí hạt nhân. Nhất là với thế giới Ả rập, bởi vì một khi Iran và Israel có vũ khí hạt nhân thì chẳng có lí do gì khiến họ không có chương trình hạt nhân của riêng mình.Và khi đó, như Mỹ lo ngại sẽ xuất hiện chủ nghĩa khủng bố có vũ khí hạt nhân. Sự nguy hiểm đối với Mỹ và
Thứ tư, Mỹ muốn xóa bỏ mối đe dọa cho đồng minh
Trong chính sách của mình, Mỹ đã không ngần ngại tỏ rõ thái độ và lập trường kiên quyết phản đối
Tóm lại, quan điểm của Mỹ đối với việc giải quyết vấn đề
Thứ nhất, là dung biện pháp đàm phán ngoại giao với sự tham gia của 6 nước lớn bao gồm Đức và 5 nước thường trực HĐBA. Thông qua các nghị quyết để thúc đẩy
Thứ hai, khi
2.1.2. Về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Tương tự như
Thứ nhất, việc Bắc Triều có vũ khí hạt nhân động chạm tới lợi ích của và trật tự toàn cầu của Mỹ.
Thứ hai, vấn đề này xâm hại đến lợi ích chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Á.
Thứ ba, ảnh hưởng tới lợi ích an ninh của nước Mỹ.
Do vậy, chính sách của Mỹ đối với Triều Tiên là kiên quyết không để Bắc Triều có vũ khí hạt nhân. Sau vụ 11/09/2001, Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc không phổ biến vũ khí hạt nhân. Bởi lẽ, chính Mỹ chứ không phải quốc gia nào khác là mục tiêu tiềm tang có khả năng nhất của các cuộc tấn công khủng bố hạt nhân. Trên thực tế, Mỹ lo ngại việc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân không phải là sợ tên lửa của Triều Tiên có thể bắn tới Mỹ, vì Mỹ đã có kỹ thuật đánh chặn. Điều mà Mỹ lo ngại ở đây đó là khi Triều Tiên có vũ khí hạt nhân thì họ có thể bán ra bên ngoài, mà các tổ chức khủng bố có đủ tiền để mua chúng, khi đó an ninh của Mỹ có thể bị đe dọa. Do vậy Mỹ quyết không để Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, bất chấp những rủi ro nhất định.
Dưới thời Tổng thống B.Clinton, Mỹ áp dụng chính sách lôi kéo, tức là "chỉ cần anh không làm gì cả, tôi sẽ cho anh hưởng lợi", mà kết quả là "Hiệp định khung" ra đời. Đến thời Bush, chính phủ Mỹ thay đổi chính sách sang gây sức ép đòi Triều Tiên phải từ bỏ vũ khí hạt nhân, rồi mới hỗ trợ, tức là, " chỉ khi anh làm được cái gì đó, tôi mới cho anh hưởng lợi". Quan điểm của chính quyền Bush đối với Triều Tiên như sau:
- Tỏ thái độ rõ ràng, lập trường kiên quyết để Bắc Triều Tiên thấy rằng " Bush không phải là
- Tăng cường phối hợp với các đồng minh là Nhật Bản và Hàn Quốc để thống nhất chính sách và các bước hành động nhằm gây sức ép đối với Bắc Triều Tiên.
- Không chấp nhận đàm phán song phương mà chủ trương đàm phán đa phương nhằm đạt Bắc Triều Tiên vào trạng thái cô lập. Đồng thời từng bước trừng phạt làm cho Bắc Triều Tiên kiệt quệ.
Tóm lại, quan điểm của Mỹ đối với việc Bắc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân là trước sau như một, tức là không chấp nhận nước này sở hữu vũ khí hạt nhân. Nhưng trên bàn đàm phán sáu bên thì Mỹ có vẻ đã "chịu xuống" một chút, tức là không có những lời lẽ gay gắt như trước mà thay vào đó đã chuyển sang đối thoại một cách tích cực. Tuy nhiên, động thái này ủa Mỹ và những kết quả của vòng đàm phán 6 bên mới chỉ mang tính nguyên tắc, việc đi vào thực hiện còn nhiều vướng mắc. Trên thực tế, Bắc Triều vẫn chưa từ bỏ chương trình hạt nhân, nhất là sau ngày 25/05/2009, nước này tiến hành thử hạt nhân dưới lòng đất gây nên làn song phản đối của Mỹ và nhiều nước khác. Sự kiện này đã dẫn tới việc HĐBA thông qua nghị quyết 1874 về việc thực hiện trừng phạt đối với Triều Tiên. Đại diện ngoại giao của Mỹ, ông R.DiCarlo nói rằng: " đó là một sự trừng phạt mạnh mẽ và chưa từng có để thuyết phục họ từ bỏ chương trình hạt nhân". Ông DiCarlo cũng nói bản nghị quyết này " có răng để cắn" ( teeth that will bite), và nhấn mạnh nghị quyết 1874 là câu trả lời mạnh mẽ và thống nhất của công đồng thế giới đối với việc thử hạt nhân.
2.1.3. So sánh quan điểm của Mỹ.
* Giống nhau:
Mỹ quyết không chấp nhận cả hai nước sở hữu vũ khí hạt nhân, bất chấp khả năng phải chịu những rủi ro nhất định. Trước tiên, Mỹ đều tham gia vào quá trình đàm phán để thuyết phục Bình Nhưỡng và
Với cả hai nước Mỹ đều có xu hướng tiến hành đàm phán đa phương để cô lập hai nước này. Đều liệt hai nước vào "trục ma quỷ", và đều chủ trương đàm phán ngoại giao hòa bình để giải quyết, nhưng cũng nhấn mạnh rằng một khi đàm phán mà bế tắc thì sẽ tính đến các biện pháp trừng phạt hoặc thậm chí là hành động quân sự.
* Khác nhau:
Đối với
Đối với Triều Tiên, Mỹ cũng có quan điểm gần giống như
2.2. Quan điểm của Nga:
2.2.1. Về vấn đề hạt nhân ở
Nga có nhiều lợi ích kinh tế ở Iran. Đầu tư của Tập đoàn Khí đốt khổng lồ của Nga Gazprom đã đổ vào đó 750 tỷ USD; xuất khẩu hằng năm của Nga vào Iran trong lĩnh vực luyện kim và xây dựng cơ khí đã là 2 tỷ USD; còn cả nhà máy hạt nhân Bushehr đang hoàn thành nữa, với một lò phản ứng trị giá 1 tỷ USD; đó là chưa kể tới việc giao chiếc MiG29, những chiếc tăng T-72, và một hệ thống phòng thủ chống tên lửa lên tới 700 triệu USD.
Matxcơva cũng đánh giá cao việc Iran không ủng hộ các ý tưởng Sunni cực đoan ở Trung Á. Và đương nhiên, Iran và Nga đều phản đối việc mở rộng NATO sang phía Đông và lắp đặt các máy móc mới trong dự án lá chắn tên lửa của Mỹ ở CH Czech và Ba Lan. Nhiều cuộc đối thoại đang được tiến hành về việc bán cho Iran những chiếc máy bay Nga Tu-214 và Tu-334.
Tuy nhiên, lợi ích chiến lược chính của Nga trong khu vực Caspian liên quan đến việc giải quyết các vấn đề về khai thác nguồn tài nguyên mỏ và các nguyên liệu đầu vào ở vùng biển này. Theo một số thống kê, lòng biển Caspian chứa những mỏ dầu và khí đốt lớn thứ 3 thế giới.
Chỉnh đốn những vấn đề đó không thể thiếu sự góp sức của Iran. Không một quốc gia nào trong khu vực cần đến một cuộc chiến bên bờ biển Caspian. Mọi cuộc xung đột sẽ là mối đe dọa lớn đối với nền kinh tế của các nước láng giềng, kể cả khi họ không tham gia chiến tranh: những dòng người nhập cư, dòng vốn lưu chuyển, lạm phát…
Chính vì thế mà các nước bên bờ biển Caspian đã thống nhất ký vào một bản nghị quyết chung khước từ việc cho nước khác sử dụng lãnh thổ của mình làm căn cứ tấn công quân sự chống lại các mục tiêu nằm trên các quốc gia thành viên. Đây là một thành công lớn đối với Matxcơva, bởi Mỹ đã báo trước là sẽ sử dụng một căn cứ không quân ở Azerbaïdjan trong trường hợp có chiến tranh chống Iran.
2.2.2. Về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Bán đảo Triều tiên là một trong những nước láng giềng của Nga. Do vị trí địa chiến lược quan trọng nên bán đảo được coi là khu vực xung yếu rất được nhà cầm quyền Nga coi trọng ngay từ thời Sa Hoàng. quan hệ Nga-Bắc Triều Tiên đã có nhiều thăng trầm, dưới thời cựu tổng thống Nga v.Putin được đánh giá là “sự đột phá về chất trong quan hệ với CHDCND Triều Tiên”. Sự kiện chính trị ngoại giao đặc biệt quan trọng là chuyến thăm của cựu tổng tống Nga Putin- người lãnh đạo đầu tiên của Liên Bang Nga đến thăm Triều Tiên tháng 7 năm 2000, có thể nói đây là chuyến thăm lịch sử đối với hai nước. Chuyến đi của Putin và những văn bản hợp tác, những thỏa thuận mà Nga đạt được với CHDCND Triều Tiên, kể cả lĩnh vực hạt nhân là một thành công nổi bật có ý nghĩa thực tế về nhiều mặt. Tiếp đo, chuyến thăm của chủ tịch Kim Chang in tới Liên Bang Nga vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 2001 bằng tàu hỏa và việc kí kết bản “ tuyên ngôn Moscow của Liên Bang Nga và CHDCND Triều Tiên” đã mở ra tiếp xúc chính trị cấp cao cũng như nâng cao mức độ tin cậy lẫn nhau giữa hai nước. Bản tuyên ngôn gồm 8 điểm, vừa khẳng định tiếp tục cải thiện thúc đẩy hợp tác song phương Nga-CHDCND TRiều Tiên trên mọi lĩnh vực, bày tỏ sự thống nhất quan điểm về nhiều vấn đề chính trị, an ninh thế giới và khu vực trong đó có nhiều vấn đề quan trọng. Những việc này đã giúp nâng cao vị thế ngoại giao của Nga và là một con bài bổ sung quan trọng trong đối thoại với mĩ.
Về kinh tế, Nga thấy rằng ít đầu tư vào Triều tiên là rất không có lợi. Nga bắt đầu coi sự trao đổi, hợp tác kinh tế một cách thường xuyên và ổn định với Triều Tiên là một trong những điều kiện bắt buộc để giải quyết vấn đề nợ của nước này đối với Nga vừa để phát triển khu vực Xiberi đất rộng người thưa của mình. Trên thực tế Nga vấp phải sự cạnh tranh trên bán đảo Triều Tiên mà Nga vẫn còn nhiều lợi thế. Nga đã nhận ra rằng chính sách của TRung Quốc vừa duy trì vững chắc với bắc Triều vừa tăng cường hợp tác với Hàn Quốc tỏ ra thực dụng hơn. Xuất phát từ mục đích này, ủy ban liên chính phủ về kinh tế , thương mại và khoa học –kĩ thuật đã ra đời, kim ngạch thương mại của hai nước ngày càng tăng dù còn ở mức thấp, năm 2001 là 115triệu usd. Nga cũng đã tiếp nhận một số lượng khá lớn lao động có chuyên môn cao làm việc ở khu vực viễn đông. Đáng chú ý, từ năm 2000 NGa dần khôi phục trở lại sự hợp tác trên lĩnh vực quân sự và kĩ thuật quân sụ với TRiều Tiên, hai bên đã kí hiệp định liên chính phủ và hiệp định giữa bộ quốc phòng hai nước về hợp tác trên lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và kĩ thuật quân sự, Nga đã cung cấp các phụ tùng thay thế các thiết bị vũ khí hạng nặng do liên xô cung cấp cũng như nhu cầu trang bị của Triều Tiên. Trên thực tế, cùng với Trung Quốc NGa trở thành nhà cung cấp vũ khí chủ yếu cho Triều Tiên [3]
Về an ninh, Triều tiên thuộc khu vực an ninh ngoại tuyến của Nga, nơi có sự tranh giành ảnh hưởng của nhiều nước lớn nên Nga đặc biệt quan tâm đến trên con đường lấy lại vị thế nước lớn của mình.
2.2.3. So sánh quan điểm của Nga.
Như đã phân tích ở trên ngay trong cùng một vấn đề về hạt nhân nhưng quan điểm của các nước thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc có sự khác nhau về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân của Iran. Điều này được lý giải bởi lý thuyết “hệ thống quan hệ quốc tế” như sau: hệ thống là một hiện thực được cấu thành bởi những yếu tố phụ thuộc nhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên những phương thức tổ chức nhất định. trong một hệ thống, bao giờ cũng tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnh hưởng chi phối đến các yếu tố còn lại. Tùy theo vị thế của mình trong cấu trúc .Do vậy, mỗi yếu tố sẽ phải đảm nhận những chức năng nhất định. Đến lượt mình, vị thế của mỗi yếu tố lại bị qui định bởi sức mạnh nội tại của nó- cái chức năng gây ảnh hưởng đến các yếu tố khác, cũng như năng lực chuyển hóa các yếu tố khác thành tòng thuộc. Nhờ sức mạnh của sự phụ thuộc và chi phối lẫn nhau mà các yếu tố gắn kết với nhau tạo thành chỉnh thể. Do đó, hệ thống không phải là tập hợp của những đơn vị riêng lẻ mà là thể thống nhất của những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau.
Như vậy có thể xem năm nước thành viên thường trực hội đồng bảo an liên hợp quốc là năm phần tử của một hệ thống trong tương tác với phần còn lại của thế giới- môi trường bên ngoài. Quả thật, khi hệ thống tương tác với môi trường bên ngoài theo những chiều cạnh khác nhau điều đó chứng tỏ giữa các phần tử của nó có tính “vấn đề”. Hướng đi của chúng tôi là xem xét từng phần tử để giải thích sự khác biệt trong quan điểm của hệ thống và NGa là một minh chứng rõ nét. Chủ nghĩa hiện thực sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ nét hơn về vấn đề này, vấn đề đặt ra ở đây là ván bài lợi ích của NGa ở bán đảo triều tiên và iran. Chúng tôi sẽ đi qua tưng quốc gia để chỉ ra sự khác biệt.
Trong lịch sử từ lâu lợi ích quốc gia đã được nhận thức qua các cuộc xâm lấn lãnh thổ giữa các quốc gia. Theo Hans Mogenthau, cha đẻ của chủ nghĩa hiện thực chính trị cho rằng “tiêu chí chính để chủ nghĩa hiện thực chính trị tìm được khuynh hướng đi trong chính trị quốc tế là khái niệm lợi ích được định nghĩa bằng quyền lực. khái niệm này tạo ra mắt xích giữa việc lập luận để hiểu về chính trị quốc tế và những thực tế cần phải làm”[4]. Lợi ích dân tộc là một thực thể khách quan, nó được hình thành trên cơ sở đặc thù của địa chính trị, sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và trên cơ sở bản chất của môi trường quốc tế. Do đó , lợi ích dân tộc là cơ sở bền vững của chính sách quốc tế của quốc gia. Tình hình địa chính trị, môi trường xung quanh, bản chất các mối đe dọa, thách thức mà các quốc gia đang đối mặt cũng như truyền thống văn hóa-xã hội của dân tộc không phụ thuộc vào ý muốn của bất cứ ai. R.aron một đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực chính trị đã khẳng định “lợi ích dân tộc là chuẩn mực cho việc phân tích, là lý tưởng của nhà hoạt động chính trị”. Theo từ điển quan hệ quốc tế xuất bản ở mỹ: “lợi ích dân tộc là mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định cuối cùng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại. Lợi ích quốc gia là một khái niệm có tính chất khái quát hóa cao bao gồm những nhu cầu sống còn của các quốc gia đó. Đó là tự bảo vệ , độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế” [5] sự va chạm lợi ích quốc gia thực sự sẽ dẫn đến xung đột lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, lôi cuốn càng nhiều dân tộc, quốc gia với nhiều vấn đề. Lợi ích quốc gia sẽ nằm trong xu hướng quốc tế hóa ngày càng cao với việc hình thành các tổ chức quốc tế. Lợi ích quốc gia sẽ như thế nào với lợi ích của tổ chức mà nước đó là thành viên, nếu mâu thuẫn thì xử lý ra sao ?. Đa số các học giả, chuyên gia cho rằng lợi ích dân tộc, quốc gia chỉ được coi là thực tế, phù hợp khi tính đến lợi ích của các bên trong hệ thống quan hệ quốc tế. Minh chứng rõ nét cho điều này là việc Nga đã thống nhất với các nước thành viên còn lại của P5 trong các nghị quyết trừng phạt Bắc Triều Tiên và Iran, tuy nhiên bên cạnh những quan điểm chung NGa cũng có những quan điểm riêng của mình về hai vấn đề này. Dưới cách nhìn hiện thực, có thể thấy Nga ứng xử vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên mềm hơn vấn đề hạt nhân của Iran. Tại sao vậy? thực chất đây là ván bài lợi ích của Nga ở hai quốc gia này.
Tổng thống Nga nêu rõ Moscow ủng hộ một nghị quyết mới nghiêm khắc hơn để lên án những hành động vừa qua của Triều Tiên, đồng thời đề nghị hoạch định một cơ chế rõ ràng để ngăn chặn Triều Tiên tiếp tục những động thái tương tự. Ông cho rằng những hành động mới đây của Bình Nhưỡng thực sự là mối quan ngại lớn đối với an ninh quốc tế và việc "mở rộng câu lạc bộ hạt nhân là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được" thực sự ngoài những tuyên bố chung thì đây là nước đôi của Nga, một mặt Nga không muốn Triều tiên có vũ khí hạt nhân mặt khác Nga cũng muốn sử dụng Triều tiên là con bài trong đối thoại với các nước khác chẳng hạn sau khi Bình Nhưỡng thử tên lửa hôm 25 tháng5, ngoại trương Nga Sergei Lavrov đã phát biểu các lệnh trừng phạt với triều Tiên có thể “phản tác dụng”
Đối với Iran, tình hình nóng hơn rất nhiều đặc biệt là sau những tuyên bố cứng rắn mới đây của Nga “kiên quyết không chấp nhận Iran sở hữu vũ khí hạt nhân” và ngôì vào đàm phán với Mĩ , điều này được lý giải bởi chủ nghĩa hiện thực như sau: Mĩ hứa sẽ gỡ hệ thống phòng thủ tên lửa ở đông âu và Nga bán Iran. Quả thực trong một hệ thống khi một phần tử biến đổi, do những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau dẫn đến cả hệ thông thay đổi, những phân tích trên về quan điểm của Nga là một Minh chứng rõ nét.
2.3. Quan điểm của Trung Quốc:
2.3.1. Về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Quan hệ Trung-Triều đã có một lịch sử lâu dài, đặc biệt là sau cuộc chiến tranh ở Triều Tiên. Như ông Kim Jong-il ( nhà lãnh đạo Triều Tiên) đã nói thì quan hệ Triều – Trung, là một tài sản kế thừa từ các thế hệ lãnh đạo trước của hai nước, đã đứng trước thử thách của lịch sử và không thể phá vỡ. Từ sau chiến tranh Trung Quốc là chỗ dựa duy nhất của Triều Tiên trong vòng cấm vận của các nước mà đứng đầu là Mỹ. Còn vũ khí hạt nhân là lá chắn của Triều Tiên trước vòng vây của các nước. Là người bạn thân cận của Triều Tiên(bởi nhiều lý do khác nhau), Trung Quốc có quan điểm riêng của mình trước cái gọi là cuộc khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên.
Ngày 9/1/2006, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào khẳng định: "Một nguyên tắc không thay đổi là vấn đề hạt nhân của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cần phải được giải quyết một các hòa bình thông qua đối thoại". Còn thủ tướng Ôn Gia Bảo thì nhấn mạnh, cộng đồng quốc tế cần nhất trí rằng, thực hiện phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên thông qua đối thoại và tham vấn là cách duy nhất để giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Đối thoại và quan hệ ngoại giao mềm mỏng là quan điểm suyên suốt trong chính sách của Trung Quốc về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.
Là một ủy viên thường trực của HĐBA Trung Quốc cũng đặt bút ký vào nghị quyết 1718 về việc cấm Triều Tiên tiến hành các vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo, cùng với nghị quyết 1874 của HĐBA LHQ được HĐBA LHQ nhất trí thông qua vào ngày 12/06/2009, thi hành sự trừng phạt về kinh tế và thương mại đối với Bắc Triều Tiên và khuyến khích các quốc gia thành viên của LHQ lục soát tàu hàng của Bắc Triều Tiên, sau vụ thử hạt nhân dưới lòng đất do nước này thực hiện vào ngày 25/5/2009. Nhưng khác với bốn nước còn lại trong HĐBA Trung Quốc chưa đưa ra bất kỳ lệnh trừng phạt nào đối với Triều Tiên mà chỉ nói là sẽ cân nhắc đến khả năng này nếu tình hình thực sự xấu đi.
Trung Quốc không đưa ra lệnh trừng phạt với Triều Tiên không có nghĩa là Trung Quốc đồng tình với việc Triều Tiên theo đuổi chương trình hạt nhân của mình. Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ bất kỳ sự hợp tác nào của nước này với CHDCND Triều Tiên trong việc phát triển năng lượng hạt nhân và "Trung Quốc chưa bao giờ có bất kỳ sự hợp tác nào với CHDCND Triều Tiên trong lĩnh vực phát triển năng lượng hạt nhân," ông Wang Yiren, Giám đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử của Trung Quốc, cho biết tại một cuộc họp báo về năng lượng hạt nhân ở thủ đô Bắc Kinh vào ngày 20/4/20009. Bởi việc Triều Tiên theo đuổi tham vọng hạt nhân sẽ tạo ra rất nhiều thách thức lớn với Bắc Kinh. Với việc Triều Tiên tiếp tục phát triển năng lực hạt nhân, Hàn Quốc và Nhật Bản hoàn toàn có cớ (đảm bảo an ninh) để tăng cường sức mạnh quân đội: tăng chi phí quốc phòng, triển khai thêm nhiều hệ thống phòng thủ và thậm chí là phát triển vũ khí nguyên tử để cân bằng sức mạnh, răn đe Triều Tiên. Và Trung quốc chắc chắn không muốn vây quanh mình là các quốc gia toàn hạt nhân. Với tiềm lực kinh tế hùng mạnh (Nhật xếp thứ 2, Hàn Quốc xếp thứ 11 thế giới), sở hữu công nghệ sản xuất điện hạt nhân tiên tiến (rất gần với việc sản xuất vũ khí nguyên tử), cũng như có trình độ cao trong việc phóng vệ tinh (gần công nghệ phóng tên lửa)…thì hai nước này có thể sản xuất hàng loạt tên lửa hạt nhân. Và như nhiều chuyên gia dự đoán, Nhật Bản dễ dàng sản xuất hàng trăm tên lửa hạt nhân chỉ trong…6 tháng. Và khi hai nước này có vũ khí hạt nhân, ưu thế của Bắc Kinh trong lĩnh vực nguyên tử bị suy giảm và thậm chí bị Nhật còn cân bằng, thậm chí vượt qua. Lúc đó, Nhật Bản và Hàn Quốc có lẽ không “ngại” Trung Quốc như hiện nay mà tự tin hơn nhiều, đặc biệt khi phải tranh luận về các vùng lãnh thổ còn tranh chấp. Lúc đó, vị thế của Trung Quốc "bỗng dưng suy giảm", kéo theo hàng loạt rắc rối khác
Đặc biệt, việc Hàn Quốc và Nhật Bản sở hữu vũ khí nguyên tử có thể còn thúc đẩy đảo Đài Loan tiếp bước các nước này. Đối với Trung Quốc, đây là điều không thể chấp nhận được bởi với vũ khí nguyên tử, Đài Bắc có thể sẽ tuyên bố độc lập và ước mơ thống nhất đất nước về một mối càng xa vời. Chưa dừng lại, việc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân còn tạo cớ cho Mỹ đóng quân ở Nhật Bản, Hàn Quốc (với lý do bảo vệ hai đồng minh), tạo áp lực lớn lên Trung Quốc đang "ẩn mình chờ thời".
Tính xa hơn, trong trường hợp Triều Tiên thống nhất với Hàn Quốc, Bắc Kinh sẽ phải đối phó với một đối thủ mới có sức mạnh khổng lồ: vũ khí hạt nhân của Triều Tiên và sức mạnh kinh tế của Hàn Quốc.
Chính vì những lý do này mà Trung Quốc rất muốn các cuộc đối thoại về vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên được nối lại và vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên sẽ được giải quyết trong hòa bình.
Một câu hỏi đặt ra là vì sao Triều Tiên cần có vũ khí hạt nhân? Để có sức mạnh hạt nhân như ngày hôm nay, Triều Tiên phải hy sinh rất nhiều thứ, đặc biệt là từ bỏ các chương trình cải cách kinh tế, chấm dứt một số dự án hợp tác với Hàn Quốc...khiến kinh tế ngày càng suy yếu, đời sống nhân dân khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, Triều Tiên bị thắt chặt cấm vận... Vậy mà Bình Nhưỡng vẫn không tiếc tiền, tiếc của đầu tư vào lĩnh vực này bởi họ tin rằng, sở hữu vũ khí hạt nhân là biện pháp hiệu quả nhất trong tình hình hiện tại, giúp nước này giải quyết được hàng loạt khó khăn.
Thứ nhất, Triều Tiên cần một loại vũ khí đánh chặn để chống lại các cuộc tấn công từ nước ngoài. Trên thực tế, nếu Bình Nhưỡng hay bất kỳ nước nào sở hữu vũ khí hạt nhân thì không ai có thể dùng sức mạnh ngăn cản được. Do vậy, bản chất chiến lược của Triều Tiên là trở thành là nước sở hữu hạt nhân, cường quốc về hạt nhân và tên lửa, tiến tới trở thành cường quốc quân sự, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Thứ hai, Bình Nhưỡng cần vũ khí hạt nhân cho các mục tiêu trong nước bởi những thành công về loại khí tài này là thắng lợi lớn nhất, dễ nhìn thấy nhất của chính quyền của ông Kim Jong-Il. Nó cũng là lời "giải đáp" cho những khó khăn kinh tế, là lời "động viên" hàng chục triệu nhân dân vượt qua khó khăn; cũng như khích lệ niềm tự hào về dân tộc; củng cố chính quyền. Chính vì thế muốn thuyết phục Triều Tiên phi hạt nhân, cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc phải giải đáp được hai vấn đề trên, đặc biệt là đảm bảo an ninh cho Triều Tiên, giúp họ yên tâm về an ninh để Bình Nhưỡng "yên tâm" từ bỏ vũ khí hạt nhân.
Nhận thức được điều này, trong chuyến thăm Triều Tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc ngày 23/11/2009 ông Lương Quang Liệt đã tuyên bố: “Không một lực lượng nào trên thế giới có thể phá vỡ sự đoàn kết của quân đội và nhân dân hai nước. Chúng sẽ tồn tại mãi mãi”.
Tuyên bố trên cho thấy, Trung Quốc một lần nữa chính thức khẳng định sự đảm bảo an ninh và dường như chắc chắn là cả những biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo với Triều Tiên rằng, Bắc Kinh sẽ bảo vệ họ trong trường hợp Bình Nhưỡng từ bỏ vũ khí hạt nhân.
Chi tiết hơn nữa, đây cũng là lời đảm bảo, nếu chế độ hiện hành ở Triều Tiên sụp đổ, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sẽ can thiệp nhằm ổn định tình hình và khôi phục quyền kiểm soát, giống như Bắc Kinh từng làm trong chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953
2.3.2. Về vấn đề hạt nhân ở
Kể từ những năm 1990, Trung Quốc đã rất thành công khi mở rộng ảnh hưởng ở Trung Đông và Iran, đặc biệt là không gây sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực mạnh mẽ nhằm tăng cường ảnh hưởng của mình đối với các vấn đề về khu vực Trung Đông nói chung và với vấn đề
Cũng giống như vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc cũng muốn giải quyết vấn đề hạt nhân ở Iran bằng biện pháp ngoại giao hòa bình và mềm mỏng. Ngày 1/12/2009, Trung Quốc đã kêu gọi tăng cường nỗ lực ngoại giao giải quyết vấn đề hạt nhân của Iran sau khi Tehran thông báo kế hoạch xây dựng các nhà máy làm giàu urani mới.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nhấn mạnh: 'Trong tình hình hiện nay tất cả các bên cần tăng cường nỗ lực ngoại giao nhằm tìm kiếm một giải pháp toàn diện, lâu dài và thích hợp cho vấn đề hạt nhân
Trung Quốc cũng đặt bút kí phê chuẩn ba lệnh trừng phạt của HĐBA đối với
Ngày 1/4/2010 phát biểu với các phóng viên, ông Tần Cương nói: "Về vấn đề hạt nhân
Ông Tần Cương nêu rõ, trong vấn đề hạt nhân của Iran, Trung Quốc chủ trương vừa phải bảo vệ hệ thống không phổ biến hạt nhân quốc tế, vừa phải bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực. Bất kỳ lối thoát nào hay kết quả nào liên quan đến vấn đề hạt nhân của
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh, Trung Quốc phản đối Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, nhưng cũng đồng thời cho rằng, là một nước có chủ quyền, Iran có quyền sử dụng năng lượng hạt nhân vào mục đích hòa bình.
Đáp lại lệnh trừng phạt mới của HĐBA ngày 8/4/2010. Ngày 9/4/2010, Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad tuyên bố, các lệnh trừng phạt đe dọa Iran sẽ không thể buộc nước này thay đổi quan điểm và ngưng chương trình hạt nhân vì hòa bình của họ(Iran tiến hành chương trình hạt nhân từ những năm 50 để đề phòng thời kì hậu dầu lửa, công nghệ hạt nhân của Iran là do Mỹ chuyển giao). “Chúng tôi không muốn có bất kỳ lệnh trừng phạt hay đe dọa nào. Tuy nhiên, trong trường hợp các các lệnh trừng phạt được thông qua thì chúng tôi sẽ không cầu xin để được thay đổi chúng, mà ngược lại chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi những gì có lợi cho chúng tôi”, ông Ahmadinejad khẳng định.
Trong bài phát biểu về chương trình hạt nhân hàng năm, Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad cũng cho biết: “Chương trình hạt nhân của
Trước đó ngày 6/4/2010, quan chức cao cấp của Lực lượng Vệ binh cách mạng Iran, giáo sỹ Mojtaba Zolnour, một lần nữa tuyên bố Iran sẵn sàng đáp trả bất kỳ cuộc tấn công quân sự nào từ phía Israel và các đồng minh phương Tây.
Về phần mình mặc dù chấp nhận tham gia hội nghị qua điện thoại với 4 thành viên thường trực còn lại của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Đức (gọi là nhóm P5+1) để bàn các biện pháp siết chặt trừng phạt
Bởi tất cả những lý do trên mà quan điểm của Trung Quốc về vấn đề hạt nhân của Iran là Trung Quốc chủ trương vừa phải bảo vệ hệ thống không phổ biến hạt nhân quốc tế, vừa phải bảo vệ hòa bình.
2.3.3. So sánh quan điểm của Trung Quốc.
a. Giống nhau:
Với Triều Tiên một nước cận thân, cận lân, lá chắn quan trọng của Trung Quốc ở khu vực Đông Á được Trung Quốc dành một sự quan tâm đặc biệt Quan điểm của Trung Quốc về việc giải quyết vấn đề hạt nhân ở Iran và bán đảo Triều Tiên là đều thông qua con đường ngoại giao, hòa bình. Nhưng đồng thời Trung Quốc cũng ủng hộ quan điểm phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên và
Iran là nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất của Trung Quốc, là nước cung cấp dầu lớn thứ ba của Trung Quốc và Trung Quốc có những khoản đầu tư liên quan đến năng lượng rất lớn ở Iran, đồng thời tạo được tầm ảnh hưởng nên Iran Trung Quốc đã xác lập được vị trí của mình trong cộng đồng Hồi giáo(Iran là trái tim của đạo Hồi). Cũng như trong khu vực và trên thế giới, điều vô cùng quan trọng khi Trung Quốc đang muốn vươn nên vị trí siêu cường của thế giới.
Triều Tiên thì đem lại cho Bắc Kinh tiềm năng lớn về kinh tế: Trung Quốc hy vọng tình hữu nghị sẽ đảm bảo cho họ "độc quyền" thị trường Triều Tiên, cũng như đem lại cho Bắc Kinh thị phần lớn trong nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có chưa được khai thác trên miền Bắc bán đảo này. (Ước tính các mỏ khoáng sản của Triều Tiên trị giá 6.000 tỷ USD, là nguồn cung dư thừa cho nền kinh tế đang phát triển "thần tốc" của Trung Quốc").
b. Khác nhau:
Triều Tiên như là một vùng đệm của Trung Quốc với những nước "đối nghịch" như Hàn Quốc, Nhật Bản... Việc có đồng minh Triều Tiên, vùng Đông Bắc của Trung Quốc sẽ ổn định về an ninh hơn rất nhiều. Hơn nữa mối quan hệ hữu nghị với Triều Tiên hứa hẹn những món lợi lớn với Trung Quốc. Chính vì thế Trung Quốc không những đi đầu trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên bằng con đường hòa bình mà còn đưa ra những đảm bảo về an ninh và kinh tế cho Triều Tiên nếu như nước này giải trừ hạt nhân, và phải đối mặt với những đe dọa về an ninh. Còn về kinh tế thì ngay trong thời điểm hiện tại Trung Quốc là nước tài trợ lớn nhất cho Triều Tiên và đang có những kế hoạch đầu tư lớn vào Triều Tiên.
Điểm khác biệt lớn nhất trong quan điểm chính trị của Trung Quốc về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên với vấn đề hạt nhân ở
Chính những điều này đã tạo nên sự khác biệt trong quan điểm chính trị của Trung Quốc về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và vấn đề hạt nhân ở
2.4. Quan điểm của Anh:
Vấn đề hạt nhân của
Anh là một trong năm nước thuộc Hội đồng bảo an LHQ, những tuyên bố của Anh đưa ra thường là những quan điểm giống với Mỹ với những lời tuyên bố như sẽ ra lệnh trừng phạt Iran hoặc cấm vận Iran, buộc Iran phải ngừng chương trình hạt nhân.
2.4.1. Về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Phó đại sư Philip Parham cho rằng sự thông qua nghị quyết: “Cộng đồng quốc tế đã thống nhất trong việc lên án hành động Hạt nhân của Triều Tiên”
Cho thấy quan điểm của Anh về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là cùng chung quan điểm với những quốc gia trong Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.
Những quan điểm của Anh đưa ra cho thấy Anh không có những tuyên bố của riêng của mình về vấn đề áp dụng lệnh trừng phạt Triều Tiên về chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân. Những quan điểm tuyên bố của Anh hầu như dựa trên những quan điểm của Mỹ, cho thấy Anh là một đồng minh của Mỹ, ủng hộ những quan điểm của Mỹ về chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.
2.4.2. Về vấn đề hạt nhân ở
Quan điểm của ông Brown nhấn mạnh lời kêu gọi xoá sổ
Ông Brown đưa ra quan điểm cứng rắn hơn “Đất nước chúng tôi tiếp tục tiên phong cùng với nước Mỹ và các đối tác Châu Âu trong quyết tâm ngăn chặn chương trình vũ khí hạt nhân của
Cho thấy quan điểm về vấn đề hạt nhân Iran của Anh ngày càng cứng rắn hơn do tính chất cảu vấn đề là vị trí của Iran nằm ở khu vực Trung Đông, gần với Châu Âu cho thấy khi có chiến tranh thì đe doạ lớn nhất là Châu Âu. Cho thấy những quan điểm của Anh lần này cũng dựa vào những quan điểm của Mỹ, nhưng nó cũng có những quan điểm và đánh giá riêng của mình về vấn đề này. Nó ảnh hưởng đến an ninh quốc gia dân tộc của Anh.
2.4.3. So sánh quan điểm của Anh.
Từ những phát biểu của Ngoại trưởng Anh cho thấy vấn đề hạt nhân của Iran và Triều Tiên cho thấy đứng đằng sau anh có Mỹ hậu thuẫn, và Anh là đồng minh đắc lực của Mỹ về những vấn đề trong Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.
Những quan điểm riêng biệt và cứng rắn của Anh đưa ra khi những vấn đề đó trực tiếp ảnh hưởng đến nước Anh.
Nói chung những quyết định của Anh là những quyết định trừng phạt những nước sản xuất vũ khí hạt nhân như
2.5. Quan điểm của Pháp:
2.5.1. Về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên.
Pháp là 1 trong 5 nước thường trực HĐBA LHQ, đồng thời cũng là thành viên của Eu. Theo hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, Pháp nằm trong số những nước được phép phát triển và sở hữu vũ khí hạt nhân.
Năm 2009 đã trôi qua với nhiều sự kiện nổi bật, trong đó, nổi nên một vấn đề nóng bỏng là vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên và
Trở lại vấn đề, quan điểm của Pháp về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên( sau đây gọi tắt là vấn đề Triều Tiên) không rõ ràng lắm. Hay nói các khác là Pháp rất ít khi nêu quan điểm của mình về vấn đề Triều Tiên. Có chăng thì đó là những phát biểu trong các cuộc họp của HĐBA mà thôi. Nhưng tất nhiên là Pháp phản đối việc Bình Nhưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân.
Trong lịch sử, Pháp – Triều chưa từng thiết lập quan hệ ngoại giao. Do vậy
2.5.2. Về vấn đề hạt nhân ở
Cũng như phần còn lại của HĐBA LHQ, Pháp phản đối
Tuy vậy, sau khi ông Sakozy lên nhậm chức Tổng thống Pháp thì quan điểm của
Pháp là 1 trong 3 nước Eu+3( 2 nước kia là Anh , Đức) tích cực tham gia vào quá trình đàm phán nhằm đưa ra 1 giải pháp cho vấn đề
2.5.3. So sánh quan điểm của Pháp.
a. Giống nhau :
- Đối với cả 2 nước, pháp đều giữ quan điểm không nhất trí cho 2 nước phát triển chướng trình hạt nhân quân sự, phản đối 2 nước này sở hữu vũ khí hạt nhân.
- Trên cương vị là 1 trong 5 thành viên của p5, Pháp đã nhất trí thông qua các bản nghị quyết của LHQ về việc thực thi sự trừng phạt đối với cả Triều Tiên và Iran.
b. Khác nhau :
| Triều Tiên | |
| - Chưa thiết lập quan hệ ngoại giao - không chấp nhận Triều Tiên phát triển chương trình hạt nhân với bất kỳ mục đích nào - không tham gia vòng đàm phán 6 bên về vấn đề phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều tiên . - ủng họ sự trừng phạt của LHQ đối với Triều Tiên. | - có lịch sử quan hệ ngoại giao - đồng y' cho - cùng Anh, Đức tạo thành nhóm Eu+3 tiến hành đàm phán về việc giả quyết vấn đề hạt nhân ở Ira. - không đồng quan điểm với Mỹ trong việc trừng phạt mạnh mẽ |
3. Phản ứng của Triều Tiên &
3.1. Phản ứng của Triều Tiên:
Mặc dù là một nước có nền kinh tế kém phát triển nhưng chính phủ Triều Tiên vẫn tiến hành phát triển chương trình hạt nhân, tốn rất nhiều tiến của.
Theo các chuyên gia quốc tế thì nguyên nhân để Triều Tiên phát triển chương trình hạt nhân là vì mục tiêu chính trị, sau dó là mục tiêu quân sự. các nguyên nhân đó là :
Thứ nhất, động viên dân chúng, nếu như một nước nhỏ như Triều Tiên mà chế tạo thành công vũ khí hạt nhân thì đem lại cho dân chúng Triều Tiên một niềm kiêu hãnh lớn và tạo niềm tin của nhân dân vào chính quyền và tương lai.
Thứ hai, cân bằng với Hàn Quốc và Nhật Bản về chính trị và quân sự, đồng thời cũng thể hiện được vị trí của Triều Tiên trong khu vực.
Thứ ba, ngăn chặn Mỹ tấn công, Bình Nhưỡng hi vọng với việc chế tạo thành công vũ khí hạt nhân thì sẽ có thể ngăn chặn mỹ tấn công như đã làm với
Thứ tư, thực hiện chức năng trao đổi, nghĩa là Triều Tiên có được sự công bằng trên phương diện đối ngoại, và có thể đòi hỏi viện trợ từ phía các nước lớn.
Chính vì thế mà chính quyền Bình Nhưỡng luôn yêu cầu Mỹ từ bỏ chính sách thù địch, lò phản ứng hạt nhân nhẹ và viện trợ cho Triều Tiên để đánh đổi lấy việc nước này từ bỏ vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên Mỹ đã không nhất trí, và vấn đề ngày càng trở nên căng thẳng.
3.2. Phản ứng của
Còn
Thứ nhât, là việc ngăn chặn Mỹ tấn công và là lá chắn đối phó với mối đe dọa từ phía Mỹ.
Thứ hai,
Thứ ba, nhằm mục đíchb đa dạng hóa nguồn năng lượng dầu mỏ đang dần cạn kiệt.
Kế hoạch hạt nhân đã nằm trong chiến lược đã định của chính quyền
III. Kết Luận :
Hiện nay vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên Và
Trong bài của nhóm chúng tôi chỉ đề cập đến quan điểm của các nước HĐBA LHQ về cách giải quyết đối với chương trình hạt nhân của Triều Tiên và
Mỗi nước có một quan điểm khác nhau về chương trình hạt nhân của Triều Tiên và Iran, song thực chất những quan điểm ấy, dù được tuyên bố hay không thì nó cũng phục vụ cho lợi ích của chính bản than nước đó. Những lợi ích này bao gồm lợi ích kinh tế, chính trị,…, và cả nhằm mục đích là kiềm chế lẫn nhau của các cường quốc.
Sức mạnh vũ khí hạt nhân.

Danh mục tài liệu tham khảo:
1.T.S Đinh Quí Độ. Chính sách của Mỹ đối với vấn đề hạt nhân của
2. T.S Đặng Xuân Thanh, Chiều cạnh hạt nhân trong quan hệ quốc tế và trò chơi chiến lược Mỹ -
3. HVQHQT, Lý luận quan hệ quốc tế (quyển 1) . H.2007, tr33
4. jack.c.plano,
5. PGS. T.S Đỗ Đức Thịnh. Trung Đông những vấn đề và xu hướng kinh tế - chính trị trong bối cảnh quốc tế mới. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.
6.Các Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, Nghiên cứu châu Mỹ, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Những vấn đề Viễn Đông,
7.Các website tiếng Việt :
· Và một số trang web khác.
8. Các website nước ngoài:
· V.v…
[1] http://ww.tin247.com/duc_iran_khong_duoc_phep_so_huu_vu_khi_hat_nhan-2-21506591.html
[2] http://vietbao.vn/The-gioi/Han-Quoc-Bac-Trieu-Tien-khong-co-vu-khi-hat-nhan/10898480/159/
[3] tạp chí những vấn đề viễn đông, số 3(2002)
[4] HVQHQT, lý luận quan hệ quốc tế(hà nội-2007),q1, tr33
[5] jack.c.plano, roy olton, the international relations dictionary- california:abc, anta barbarra, 1982, third edition, tr9
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét