Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

13 thg 6, 2010

Thực trạng và Nguyên nhân của di cư

Theo Kinh tế đô thị.

Di chuyển lao động có chuyên môn cao quốc tế tăng rất nhanh từ những năm 1970. Các nước châu Phi, Caribbean và Trung Mỹ có tỉ lệ di chuyển lao động chuyên môn cao nhiều nhất. Trong những năm 2000, hơn một nửa dân số có trình độ đại học ở Trung Mỹ và quốc đảo Caribbean đã di chuyển và sinh sống ở nước ngoài.

Do mức tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), của thương mại quốc tế, của trình độ nghiên cứu và phát triển, của tiến bộ khoa học công nghệ và nhu cầu lao động có chuyên môn cao ngày càng tăng, đã thúc đẩy sự di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế.

Thực trạng …

Di chuyển lao động có chuyên môn cao quốc tế tăng rất nhanh từ những năm 1970. Các nước châu Phi, Caribbean và Trung Mỹ có tỉ lệ di chuyển lao động chuyên môn cao nhiều nhất. Trong những năm 2000, hơn một nửa dân số có trình độ đại học ở Trung Mỹ và quốc đảo Caribbean đã di chuyển và sinh sống ở nước ngoài. Gần 20% lao động có chuyên môn cao đã rời khỏi vùng châu Phi cận Saharan. Điều đó chứng tỏ rằng nguồn nhân lực chuyên môn cao đang ngày càng được quốc tế hoá di chuyển và chính sách di cư của các nước giàu có xu hướng lôi cuốn lao động chuyên môn cao.

Đặc biệt, di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế từ châu Á đến Mỹ, Canada , Úc và Anh tăng nhanh trong những năm 1990s. Nhu cầu công nghệ thông tin và lao động có chuyên môn cao ngày càng tăng ở các nước OECD chính là nguyên nhân của các cuộc cải cách chính sách và điều lệ di cư, tạo thuận lợi cho sự di chuyển lao động chuyên môn cao. Di chuyển lao động chuyên môn cao ngày càng tăng ở các nước OECD nhưng chủ yếu tập trung vào các chuyên gia trong ngành công nghệ thông tin IT, các nhà nghiên cứu và quản lý giỏi. Trong khi di chuyển lao động chuyên môn cao ở nội bộ các nước EU còn hạn chế thì di chuyển lao động chuyên môn cao giữa EU với các nước khác ngoài EU đang ngày càng tăng. Ví dụ, lao động có chuyên môn cao tại Pháp, Anh và Đức là những nguồn lực chính di chuyển tới Mỹ với chương trình visa tạm thời H1B (dành cho lao động có trình độ cao, có thể làm việc tối đa ở Mỹ 6 năm). Mỹ cũng có nhiều chính sách khuyến khích người nước ngoài làm việc tạm thời tại các nước OECD. Hai đặc điểm nổi bật của di chuyển lao động chuyên môn cao tới Mỹ, đó là:

Thứ nhất, di chuyển lao động chuyên môn cao tạm thời (temporary) tăng nhanh trong nửa sau thập kỷ 1990s, trong khi di chuyển lao động chuyên môn cao có tính dài hạn (permanent) như các kỹ sư, các chuyên viên máy tính lại giảm rất mạnh từ năm 1992;

Thứ hai, làn sóng di chuyển lao động chuyên môn cao trong các ngành như bác sĩ, các chuyên gia y tế cao cấp ... đang tăng rất mạnh trong những năm 2000s.

Theo Tổ chức những người di cư quốc tế (OIM), con số những người có bằng cấp ở châu Phi ra đi những năm đầu 1980 là 40.000 người, thì năm 1987 đã là 80.000 người - tăng gấp đôi. Riêng Zimbabue, là nước bị ảnh hưởng nặng nhất với hơn 50% nhân viên y tế tay nghề cao đã chọn “nhiệm sở “ ở nước ngoài. Sự ra đi này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của lục địa vốn đã nghèo đói này. Theo WHO châu Phi đang thiếu tới 1 triệu nhân viên y tế, trong khi đó xu hướng ra đi của lực lượng này đang có xu hướng gia tăng trước nhu cầu ở các nước phát triển. Riêng Mỹ tính đến năm 2020 cần tới 800.000 hộ lí và 200.000 bác sĩ từ nước ngoài. Mỗi nhân viên y tế ra đi châu Phi mất 500.000 USD với một bác sĩ và 200.000 USD với một y tá cho chi phí huấn luyện, đào tạo.

Mêhicô cũng là quốc gia chịu ảnh hưởng của tình trạng di chuyển lao động chuyên môn cao. Theo công bố của Hội đồng KH và CN quốc gia Mêhicô (CONACYT) từ 1971 đến 2005 đã có 2100 người có trình độ chuyên môn cao ra nước ngoài không trở về, khiến Mehicô thiệt hại hơn 106,5 triệu USD. Đáng chú ý trong 4 năm đầu của nhiệm kỳ Tổng thống Vicente Fox đã có tới 670 sinh viên tốt nghiệp mà không trở về tổ quốc.

Và nguyên nhân

Di chuyển "lao động chuyên môn cao" là một hiện tượng bình thường, và ngày càng xảy ra thường xuyên hơn của thị trường lao động. Nền kinh tế càng phát triển, hiện tượng này càng phổ biến, và là điều kiện không thể thiếu của sự phát triển lành mạnh. Những người lao động tri thức là những người có tính di động rất cao. Muốn đẩy nhanh sự phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng nền kinh tế tri thức, thì các quốc gia phải khôn ngoan đối mặt với hiện tượng di chuyển của những người lao động nói chung và người lao động tri thức nói riêng, có chính sách "trọng dụng" họ, tạo mọi điều kiện (về vật chất và tinh thần) để họ làm việc có hiệu quả. Theo các chuyên gia kinh tế, có 4 nhóm nguyên nhân cơ bản sau dẫn đến sự di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế:

1) Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế là do kết quả của quá trình toàn cầu hoá. Quá trình toàn cầu hoá làm tăng chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia. Mức chênh lệch ngày càng tăng về trình độ phát triển giữa các quốc gia, dẫn tới sự phát triển không đồng đều về kinh tế xã hội. Quá trình toàn cầu hoá và những chính sách di cư chọn lựa ngày càng tạo điều kiện thuận lọi cho việc di chuyển lao động có chuyên môn cao quốc tế. Trong mỗi quốc gia, tri thức giáo dục vẫn được coi là yếu tố quyết định đến việc di chuyển lao động. Lao động càng có trình độ chuyên môn cao càng có xu hướng di cư nhiều. Và trình độ giáo dục chính là nhân tố thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động. Giáo dục cũng làm tăng khả năng di chuyển lao động ra nước ngoài. Toàn cầu hoá được thể hiện mạnh trong những năm 1990s đó là cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự liên kết kinh tế của thị trường sản phẩm (toàn cầu hoá các công ty ngày càng tăng).

2) Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế là hậu quả của sự khan hiếm lao động chuyên môn cao của nước nhận lao động. Sự khan hiếm lao động chuyên môn cao được phản ánh thông qua việc trả lương cho lao động có chuyên môn cao hơn mức thu nhập của lao động trong nước. Lao động có chuyên môn cao thường tham gia vào các ngành công nghiệp có kỹ năng cao (high – tech), vào việc quản lý các doanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) và tham gia vào các ngành khoa học công nghệ, các ngành công nghiệp tri thức toàn cầu.

Di chuyển lao động chuyên môn cao được đặc trưng bởi “cầu kéo” (demand – pull) từ phía các nước nhận lao động. Các chính sách di chuyển lao động của nước nhận lao động phản ánh sự thiếu hụt của thị trường lao động trong nước. Kết hợp cùng với những tác động của sự chọn lựa từ phía cung (nước gửi lao động), điều này sẽ dẫn đến tỉ lệ di chuyển vốn nhân lực có chuyên môn cao từ các nước đang phát triển tới các nước phát triển.

3) Do chính sách "thu hút nguồn nhân lực chuyên môn cao" của các nước phát triển. Sự “di chuyển” ngày càng tăng của “nguồn nhân lực chất lượng cao” là do nước nhận lao động đã dành cho họ những điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, môi trường phát huy trí tuệ tốt hơn,… Trong số 150 triệu người tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ trên thế giới, thì 90% số họ sinh sống và làm việc ở 7 nước công nghiệp phát triển nhất; riêng Mỹ và Canada chiếm khoảng 25%. Do các nước đang phát triển không có đủ phương tiện và điều kiện để đối phó với sự mất mát nguồn nhân lực khoa học, không phát huy và khai thác hết được tiềm năng của đội ngũ các nhà khoa học. Trong khi đó, điều kiện làm việc của các nhà khoa học ở các nước phát triển thuận lợi hơn nhiều. Sự chênh lệch về mức thu nhập trong cùng một chức danh khoa học giữa hai nhóm nước lên đến 12 lần. Ở các nước đang phát triển, các ngành công nghiệp, công nghệ và các trường đại học không có khả năng kết hợp với nhau để làm việc, từ đó gây ra cảm giác thất vọng thúc đẩy “lao động có chuyên môn” di chuyển.

4) Do thiếu dịch vụ bảo hiểm và cơ chế quản lý rủi ro. Ở các nước phát triển rủi ro trong thu nhập được tối thiểu hoá thông qua thị trường bảo hiểm của tư nhân và chính phủ. Song ở các nước đang phát triển do cơ chế quản lý rủi ro không hoàn hảo, người lao động khó có khả năng tiếp cận được thị trường bảo hiểm. Do vậy, người lao động có xu hướng di chuyển về thị trường lao động có bảo hiểm để tối đa hoá nguồn thu nhập và tối thiểu hoá những mất mát, rủi ro. Những lao động tri thức, có chuyên môn cao hơn ai hết lại là những người nhận thức rõ điều này. Và do những hạn chế, yếu kém trong cơ chế, chính sách ở các nước đang phát triển đã tạo ra dòng di chuyển lao động quốc tế mạnh./

1 nhận xét:


Tổng số lượt xem trang

free counters