Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

28 thg 6, 2010

cthpt

- Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bâng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị - xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân.
- "Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa" là hình thức chưa thể hiện hết nội dung của nhà nước pháp quyền, còn "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là nhà nước đã thể hiện hết nội dung của nhà nước pháp quyền, là nhà nước pháp quyền theo ý nghĩa đầy đủ nhất. Trên cơ sở đó, tác giả xác định một sô nội dung chủ yếu cần được thực hiện nhằm xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó quyền lực của pháp luật là quyền lực duy nhất và cơ bản; nghĩa là, không phải quyền lực chính trị mà quyền lực pháp luật là quyền lực tối cao. Do đó, ở bất kỳ đâu nếu thừa nhận một đảng chính trị nào đó là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước thì điều đó đồng nghĩa rằng nhà nước ấy được lãnh đạo bởi chính trị chứ không phải bởi pháp luật. Nhà nước pháp quyền là sản phẩm của nền dân chủ về chính trị, tại đó con người tự do trong việc lựa chọn các khuynh hướng chính trị; đương nhiên, nếu con người tự do trong việc lựa chọn các khuynh hướng chính trị thì cộng đồng sẽ tự do trong việc lựa chọn các hình thái chính trị. Những quốc gia không tự do trong việc lựa chọn các khuynh hướng chính trị sẽ có nền chính trị đồng nhất, tại đó người ta chỉ thừa nhận những quan điểm duy nhất về mặt chính trị và do đó, sẽ rất khó xây dựng nền dân chủ. Nói về vấn đề nhà nước pháp quyền của Việt Nam, tôi cho rằng, chúng ta mới chỉ đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và cần phải thỏa mãn một số tiền đề quan trọng thì mới có thể hoàn thành công việc này.
- Dân chủ là một khái niệm và nó cũng có nhiều cấp độ, nhiều mức độ, nhiều hình thức. Hai yếu tố quan trọng nhất quyết định mức độ dân chủ là sự đa dạng chính trị và sự đa dạng nhận thức. Không phải không có sự đa dạng chính trị thì không xây dựng được nhà nước pháp quyền nhưng mức độ da dạng chính trị sẽ quyết định chất lượng của nhà nước pháp quyền. Cũng tương tự như vậy với sự đa dạng về nhận thức. Dân trí gắn liền với ý thức của nhân dân và phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục. Nếu không thừa nhận sự đa dạng về chính trị và sự đa dạng về nhận thức thì không thể giáo dục tự do, và nếu không giáo dục tự do thì không gian nhận thức của nhân dân sẽ bị hạn chế và điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trình độ dân trí.
- dân chủ không còn là quyền chính trị, trong thời đại toàn cầu hoá, dân chủ là một quyền phát triển. Chỉ khi nào nhận thức được điều này thì nền dân chủ mới hình thành và chính trong quá trình hình thành một cách âm thầm trong lòng xã hội như vậy, nó sẽ tạo ra sự phát triển trong nhận thức của người dân về tính cần thiết của các quyền tự do. Khi sự thức tỉnh của xã hội đạt tới mức độ nhất định, con người sẽ nhận ra rằng nhà nước pháp quyền vĩnh viễn chỉ là một khái niệm rỗng nếu thiếu đi nền dân chủ chính trị. Đó là sự thức tỉnh quan trọng, nhất là đối với thế giới thứ ba và là động lực để xây dựng một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

- (1) quan niệm đồng hóa xã hội dân sự với nhà nước/quốc gia qua Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau vào các thế kỷ XVI-XVIII, (2) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị trường với Bernard Mandeville, Adam Ferguson và Adam Smith vào các thế kỷ XVII-XIX, (3) quan niệm xã hội dân sự tách khỏi nhà nước với Immanuel Kant, Benjamin Constant vào các thế kỷ XVIII-XIX, đến (4) quan niệm xã hội dân sự là xã hội thị dân hay xã hội tư sản với Georg Hegel, Karl Marx, Friedrich Engels và Antonio Gramsci vào các thế kỷ XIX-XX.
- XHDS đã tồn tại ở VN từ rất lâu. Nói nôm na, đó là các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước, nằm ngoài các hoạt động của doanh nghiệp (thị trường), nằm ngoài gia đình, để liên kết người dân với nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung. Như vậy, thành phần quan trọng của XHDS là các hội, hiệp hội trong dân chúng, trong làng xóm, mang tính chất liên kết cộng đồng.

Theo quan niệm đó thì ở VN Mặt trận Tổ quốc là tổ chức XHDS lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân...), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ... Mặt khác có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng người dân. Nếu thể chế nhà nước hoạt động dựa vào luật, thể chế thị trường hoạt động dựa vào lợi nhuận thì XHDS vẫn tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng.
ở việt nam tác động của XHDS vào xã hội còn thấp. Đối với việc tác động của XHDS vào qui trình dự toán ngân sách quốc gia nhóm nghiên cứu chỉ chấm 0,1 điểm. Điều đó chứng tỏ hoạt động của XHDS ở VN còn rất hạn chế và không có ảnh hưởng rõ rệt nào. Người dân (các tổ chức của dân) rất ít được tham gia các quá trình ra quyết định, như lập ngân sách, vay ODA... Hoặc trong chỉ số XHDS tác động tới việc giải trình của Chính phủ, điểm số đạt được chỉ là 0,6. Trên thực tế, hầu hết các công trình xây dựng qui mô lớn (hàng nghìn dân phải di dời, thay đổi lớn về xã hội, văn hóa), các tổ chức XHDS cũng chưa phát huy được sự tham gia của mình.

Một lý do khác để một số người còn cho rằng VN chưa có XHDS (đích thực) là các tổ chức đoàn thể, nhất là ở cấp trung ương còn gắn nhiều với Nhà nước, chưa mang tính độc lập trong khía cạnh phản ánh nguyện vọng của người dân. Ví dụ trong Quốc hội, đại biểu Quốc hội lẽ ra phải là đại biểu dân cử (mang nhiều tính chất của XHDS) nhưng lại là bộ trưởng, lại là chủ tịch tỉnh (tính chất Nhà nước). Tất nhiên VN đang trong thời kỳ chuyển đổi, các tổ chức đoàn thể (các tổ chức XHDS) xuất phát từ thời kỳ cách mạng nên có nhiều sự ràng buộc với chính quyền. Còn tác động của XHDS tới xã hội là có.

Như thế, có thể khẳng định ở VN đã tồn tại XHDS. Ở VN có những khẩu hiệu thể hiện chủ trương khích lệ sự tham gia của XHDS, như “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra” hay như nghị định về dân chủ cơ sở.
- Xã hội dân sự dựa trên nguyên tắc tự nguyện, thoả thuận với nhau, không muốn nhà nước can thiệp chứ không phải đối lập với nhà nước.
Một nhà nước hiện đại dứt khoát phải là pháp quyền, thứ hai phải chấp nhận kinh tế thị trường, thứ ba là xã hội dân sự.
Xã hội dân sự là một tập thể xã hội liên kết với nhau, điều chỉnh trên nguyên tắc dân sự, tự nguyện thoả thuận. Trước đây thế kỷ 17, nói xã hội dân sự là xã hội theo khế ước, tự thoả thuận với nhau sống trong một nhà nước. Ví dụ, quan hệ dân sự, quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân liên kết với nhau là xã hội dân sự. Cho nên người ta đưa khái niệm xã hội dân sự riêng, phân biệt với xã hội chính trị.
Xã hội dân sự trường tồn trước khi có nhà nước. Nhà nước ra đời để điều chỉnh xã hội dân sự, nếu điều chỉnh theo đúng quy luật của nó thì Nhà nước tốt. Nếu điều chỉnh sai thì là Nhà nước không đúng.
---------------------------------------------------------------------------------------------

- Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters