Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

28 thg 6, 2010

XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ MẤY VẤN ĐỀ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

TẠP CHÍ KHPL SỐ 4(41)/2007
XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ MẤY VẤN ĐỀ
CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI*
*Tham luận tại Hội thảo khoa học do Văn phòng Quốc hội và Dự án Hỗ trợ cho Thể chế Việt Nam của Ủy ban châu Âu tổ chức tại Nha Trang 15-17/8/2007
TƯƠNG LAI**
**GS. Xã hội học
I. ĐÔI ĐIỀU VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ
1. Về khái niệm
Khái niệm “xã hội dân sự” ra đời từ cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX nhằm phân biệt giữa xã hội chính trị (tức là nhà nước, vốn có chức năng bao trùm toàn xã hội) với mạng lưới dày đặc các mối quan hệ cá nhân, nhằm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân cực kỳ phức tạp, đa dạng. Mạng lưới dày đặc đó chính là xã hội dân sự.
Thoạt đầu, ý tưởng về “xã hội dân sự” và “xã hội công dân” gần như đồng nhất, nhưng dần dần hai khái niệm ấy tách khỏi nhau vì trong tiến trình phát triển, người ta ngày càng thấy rõ rằng người công dân, đồng thời cũng là con người, với tất cả những đặc tính phong phú của nó. Cho nên, không thể quy toàn bộ tính phong phú ấy vào trong khái niệm “công dân”. Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội..., vai trò của cá nhân ngày càng được nổi bật, ngày càng được tôn trọng. Theo đó, vai trò của xã hội dân sự càng được xác lập, đặc biệt là từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi.
“Xã hội dân sự”, [dịch từ chữ “civil society”, tiếng Anh hoặc “société civile”, tiếng Pháp] ra đời ở phương Tây, sau cách mạng công nghiệp và cách mạng dân chủ tư sản Pháp, nhằm phân biệt giữa “xã hội chính trị” (tức là “nhà nước”) với những cái không phải là nhà nước, tức là không thuộc vào “xã hội chính trị”. Đó là “xã hội dân sự”. Hegel, tác giả của “Nguyên lý triết học về pháp quyền” là một trong những người đầu tiên phân biệt rõ xã hội dân sự và nhà nước được trình bày trong tác phẩm ấy.
“Xã hội dân sự” nằm ngoài nhà nước, là một mạng lưới dày đặc các mối tương tác và trao đổi giữa những cá nhân, nhằm thỏa mãn những nhu cầu cá nhân theo những cách riêng tùy theo nhu cầu và sở thích riêng trong mối quan hệ với cộng đồng. Cần phải có sự phân biệt đó, vì ở phương Tây, Nhà nước lúc đầu chính là xã hội, vì thế mới có khái niệm “xã hội chính trị”. Đó là xã hội của con người, được hình thành do hoạt động đặc trưng của con người, thiết lập những mối quan hệ giữa người và người, giữa những của cải của họ, bằng cách tạo ra một hình thức cai trị, hình thành những mối quan hệ giữa những người cai trị và những người bị cai trị. Đấy là Nhà nước, và Nhà nước với đặc điểm như vậy thì bao trùm toàn xã hội.
Đến thời Phục hưng, người ta dần dần phân biệt cộng đồng tôn giáo và cộng đồng chính trị. Nhà thờ tách khỏi Nhà nước. Rồi tiếp đến, sau cách mạng dân chủ tư sản Pháp, tiến thêm một bước nữa, tách “xã hội dân sự” ra khỏi “xã hội chính trị” tức là Nhà nước. Điều này đánh dấu một bước phát triển của những thành tựu về dân chủ mà xã hội đạt được theo hướng “dân chủ hóa xã hội” nhằm thu hẹp và giảm bớt quyền hành của bộ máy nhà nước. Gần đây có ý kiến nhấn mạnh rằng: “civil society” xác định một “lĩnh vực tư” khác với “lĩnh vực công” mà guồng máy nhà nước phụ trách. Cả hai sự phát triển song hành đó đều dựa trên tinh thần đề cao quyền hạn và trách nhiệm của cá nhân, tức là lĩnh vực tư, bên ngoài lĩnh vực công do nhà nước phụ trách” .
Cho đến nay, khái niệm “xã hội dân sự” vẫn đang còn nhiều tranh cãi. Có người vẫn cho rằng nên dịch từ “civil society” hay “société civil” là “xã hội công dân”. Thậm chí có nhà nghiên cứu cho rằng, trong lịch sử Trung Quốc, “civil society” đã có từ thời nhà Chu[1]! Đây là một vấn đề học thuật cần phải tiếp tục nghiên cứu. Ở Việt Nam, có nhà nghiên cứu còn cho rằng “Mặt trận Tổ Quốc là tổ chức xã hội dân sự lớn nhất, bao gồm các đoàn thể (công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông dân...), hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ...”[2]. E rằng xác định vội vã như vậy sẽ không minh định được thực chất nội dung và phương thức hoạt động của “xã hội dân sự” theo đúng nghĩa của nó. Cũng có luận điểm cho rằng, cần nêu rõ mối quan hệ giữa xã hội dân sự với vốn xã hội. Bởi lẽ, phải tìm “vốn xã hội” trong mối quan hệ giữa người và người trong xã hội. “Vốn xã hội” giàu hay nghèo, có tác động tích cực hay tiêu cực tùy theo độ tin cậy và tính bền vững của mối quan hệ đó được dẫn dắt bởi những chuẩn mực xã hội được cộng đồng xã hội rộng lớn chấp nhận, và dư luận xã hội tán thành. Ở đây, độ tin cậy trong mối quan hệ giữa người và người là yếu tố quyết định nhất. Theo R. Putnam “trong những xã hội mà sự tin cậy nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi hệ thống hàng dọc áp đặt từ trên xuống thì không có được mấy vốn xã hội, và cũng chẳng có được bao hoạt động của “xã hội dân sự ”.
Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là “đối quyền của quyền lực Nhà nước”, mà về thực chất, là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.
2. Không thể có “xã hội dân sự” nếu không có “Nhà nước pháp quyền”, ngược lại, “nhà nước pháp quyền”không thể hoạt động tốt, nếu không có “xã hội dân sự”.
Phải lưu ý vấn đề này, vì phải mất một thời gian dài, ở nước ta “nhà nước pháp quyền” mới được dần dần nói đến và rồi định hình với Đại hội VIII. Nhưng ngay khi “Nhà nước pháp quyền” đã được khẳng định bằng cách thêm vào đó một cái đuôi “xã hội chủ nghĩa” cho an tâm, thì cái “nhà nước pháp quyền XHCN” ấy vẫn còn kiêng dè, e ngại với cái gọi là “xã hội dân sự”.
Người ta vẫn chưa muốn nói đến “xã hội dân sự”, chắc là vì sợ “xã hội dân sự” được hình thành thì sự lãnh đạo của Đảng sẽ gặp khó khăn, Đảng khó “nắm” được cái “xã hội dân sự” này, trong khi đã có cả “hệ thống chính trị” gồm Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị, các hiệp hội nghề nghiệp tham gia vào Mặt trận đều do Đảng tổ chức ra và cử cán bộ “nắm” rất chắc!
“Người ta” là ai thì thật ra cũng khó xác định. Thậm chí “người ta” chỉ “rỉ tai”, thế là có một thứ “luật bất thành văn” vận hành trong đời sống đất nước. Cái này sẽ trở thành một sức mạnh vô hình đè nặng lên đời sống tinh thần xã hội, là một sức cản ghê gớm đến sự phát triển trên rất nhiều lĩnh vực. Nhưng khi truy tìm cho ra “thủ phạm” thì không hề có chứng cứ, cũng chẳng có văn bản nào quy định cả! Một khi mà người ta quen hành xử theo lệ chứ không theo Luật, một khi mà “Nghị quyết” to hơn Luật, thì cái thứ “luật bất thành văn” này sẽ phát huy tác dụng rất khủng khiếp. Trong tình hình ấy thì hãy dè chừng “xã hội dân sự”, nếu chưa thực sự có “nhà nước pháp quyền” đủ mạnh, một “Nhà nước pháp quyền đích thực” với “pháp quyền” đứng trên Nhà nước. “Xã hội dân sự” chỉ có thể hoạt động lành mạnh và phát huy tác dụng trong một đất nước có tinh thần thượng tôn pháp luật, khi mọi người dân đều phải sống và được sống theo Hiến pháp và pháp luật.
Bởi vậy, để hiểu cho đúng, không e ngại về “xã hội dân sự”, phải hiểu kỹ về “nhà nước pháp quyền”. Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đặt vấn đề nghiên cứu về “Xã hội dân sự và việc tham gia của các tổ chức xã hội vào quy trình lập pháp của Quốc hội”, chủ đề của một Hội thảo khoa học do Văn phòng Quốc Hội, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu Khoa học phối hợp với Dự án Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Ủy ban Châu Âu tổ chức là một ghi nhận rất đáng mừng. Vì như vậy là vấn đề “xây dựng xã hội dân sự” đã chính thức đi vào đời sống pháp lý nói riêng và đời sống xã hội - chính trị của đất nước, khi mà tiến trình hội nhập đi vào chiều sâu, đánh dấu một cột mốc trong quá trình dân chủ hóa xã hội đang diễn ra.
3. Những phác thảo ban đầu
Trong “Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp 1791. Dẫn ra những câu thể hiện tập trung nhất khát vọng của con người, của loài người, để từ đó, nói về những “lẽ phải không ai chối cãi được”. Những lý lẽ ấy theo rất sát những sự kiện mới nhất, có sức cuốn hút nhất của nền chính trị thế giới đương thời, nhằm tạo nên sức hậu thuẫn vững chắc cho quyền độc lập và tự do của dân tộc mình. Giờ đây, từ thực tiễn của việc xây dựng Nhà nước, hiểu rõ hành trình từ “chuyên chính vô sản” đến “nhà nước pháp quyền” phải trải qua những gian truân như thế nào bởi nhận ra được tầm cao của tư duy Hồ Chí Minh.
Từ tầm cao ấy, ngay từ những ngày đầu tiên của nền độc lập vừa giành lại được, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ”. Cần nhớ rằng từ năm 1919, Người đã nêu lên yêu sách này, đòi hỏi phải thay chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật. Trên báo L’Humanité ngày 2.8.1919, trong “Vấn đề dân bản xứ”, Người đòi hỏi “tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do dạy học, thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp luật” .Và ta hiểu vì sao, trong hoàn cảnh cực kỳ phức tạp của giặc ngoài, thù trong, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết tổ chức Tổng Tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, một nước dân chủ, trong đó dân là chủ, dân làm chủ! Hồ Chí Minh tin vào dân, hiểu rõ khát vọng dân chủ của dân. Bằng việc thực thi quyền dân chủ trực tiếp trong cuộc phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội năm 1946, dân ta đã chứng minh với thế giới rằng, một dân tộc vừa thoát khỏi vòng nô lệ trăm năm thực dân thuộc địa, khi đã vùng lên dưới ngọn cờ của Đảng, Đảng của Hồ Chí Minh, đã vững bước trên hành trình dân chủ.
Với tầm nhìn của một nhà văn hóa lớn, Hồ Chí Minh thấy ngay được những vấn đề mà có thể những người khác chưa thấy hoặc thấy chưa rõ. Mãi gần 60 năm sau ngày Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp 1946 thì vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền vẫn còn gặp không ít trở ngại. Thậm chí ngay sau khi Đại hội X đã ra Nghị quyết về xây dựng nhà nước pháp quyền theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vẫn có ý kiến cho rằng, “các vấn đề lớn trong Văn kiện Đại hội X đều ẩn chứa nội dung và chức năng của chuyên chính vô sản... mặc dầu không nhắc đến cụm từ chuyên chính vô sản” [3].
Chính vì thế, phải lần lại những bước đi khó khăn “vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh” của hành trình từ “chuyên chính vô sản” đến “nhà nước pháp quyền” để rồi thấy được cái sức cản của câu chuyện về “xã hội dân sự” mà ta định bàn. Điều này không lạ. Ph Angghen từng cảnh báo từ rất lâu: “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hóa”. Cái quán tính của những giáo điều từng được xem là “thiên kinh địa nghĩa” vốn ăn sâu vào não trạng khó cởi bỏ một sớm một chiều. Đấy là chưa nói nhiều khi tư tưởng đã thông, nhưng hành động thì lại vẫn bị tác động bởi thói quen đã thành nếp đang chi phối hành động và ứng xử của con người. Cuộc cải cách bộ máy hành chính của ta tiến triển quá chậm là một minh chứng quá rõ cho điều này.
Mãi cho đến Đại hội VII, lần đầu tiên khái niệm “chuyên chính vô sản” với tư cách là bản chất của Nhà nước XHCN mới không được nói đến nữa, thay vào đó là khái niệm “xây dựng Nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” và xác định rằng :“là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng luật pháp”.
Ở đây đã thấp thoáng có bóng dáng của tư duy về Nhà nước pháp quyền, mà với Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 và Hiến pháp 1946 Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng cho nó. Hồ Chí Minh đã tiếp thu những thành tựu trực tiếp của thời kỳ Khai sáng với tư duy về nhà nước pháp quyền, từ cơ sở của triết học chính trị về quyền lực của Montesquieu. Trong triết lý của Montesquieu, bình đẳng trong liên hệ gắn kết với với luật pháp của chế độ dân chủ, có mối đan xen trực tiếp với tự do. Việc hiện thực hóa tự do thành một quyền căn bản của con người được tạo dựng từ đó. Nền dân chủ pháp trị chính là kết tinh toàn bộ triết lý của Montesquieu về bình đẳng, tự do, dân chủ. Xây dựng một nhà nước pháp quyền chính là xây dựng một chính thể dân chủ, cũng là xây dựng những thể chế, những quan hệ thượng tôn pháp luật, làm cho chúng có sức sống, được vận hành trong cuộc sống. Các nhà nghiên cứu về C. Mác sau này đã chỉ ra rằng, một trong những hạn chế của C. Mác trong xây dựng lý luận về nhà nước, chính vì chưa biết khai thác những thành tựu tư tưởng về nhà nước pháp quyền của thời kỳ “ánh sáng”, măc dầu C. Mác cũng đã từng đọc, ghi chép và nhận xét về Montesquieu, về Rousseau để chuẩn bị cho bản thảo về nhà nước, nhưng rồi công trình ấy bị bỏ dở.
Có hiểu sâu điều này mới hiểu vì sao Hồ Chí Minh lại tìm cách vận dụng những thành tựu của phương Tây khi mà Người đã từng sống nhiều năm ở Liên Xô và am hiểu về của Nhà nước Xô Viết. Nói thành tựu của phương Tây là nói về thành tựu về nhà nước và nền dân chủ của Pháp, Mỹ và Anh, vì nước Anh đã một thời là hình mẫu cho các nền dân chủ phương Tây. Kinh nghiệm của nước Anh được Hobbes và Locke tổng kết, rồi Montesquieu và Rousseau đã tiếp nhận và bổ sung, Tocqueville đã phát triển thêm khi nghiên cứu về nước Mỹ.
Trong “Việt Nam yêu cầu ca” xuất hiện rất lâu trước Hiến pháp 1946 có câu “Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”, khái niệm “thần linh pháp quyền”. mà Nguyễn Ái Quốc sử dụng ở đây liệu có mối liên quan với “l’esprit des lois” của Montesquieu không? Điều thấy rõ nhất là Hồ Chí Minh đã kết hợp dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Khi dùng dân chủ đại diện, Hồ Chí Minh không theo mô hình “Xô viết” của Lênin, một mô hình không đứng vững được qua thử thách, mà về sau Liên Xô phải phá bỏ mô hình tháp Hội đồng Xô viết, quay trở lại với việc bầu cử theo đơn vị hành chính dân cư và lập ra Nghị viện theo kiểu nền dân chủ phương Tây.
Hồ Chí Minh đã hiểu rõ điều này nên trong cuộc Tổng tuyển cử 1946, Người đã vận dụng thành công thành quả bầu cử Nhà nước đại diện của nền dân chủ phương Tây nhưng tránh được khuyết tật vốn có của nó, để thực hiện bầu cử thật sự tự do và dân chủ đối với những người ứng cử cũng như với cử tri. Cần nhớ rằng, với Tổng tuyển cử 1946, số người ứng cử là đông nhất trong tất cả những lần bầu cử Quốc hội của nước ta từ sau đó cho đến Quốc hội khoá XII hiện nay. Khi bầu cử ra Nhà nước đại diện cho dân rồi, thì tổ chức nó như thế nào để thực hiện bằng được nguyên lý: toàn bộ quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi .
Chỉ xin dẫn ra đây một ví dụ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất...”, “Cao nhất” chứ không phải là “toàn bộ”. Quyền lực thống nhất ở nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi, chứ không ở bất kỳ một tổ chức đại diện nào khác. Chẳng hạn như, Quốc hội được giao một số quyền hạn, Chủ tịch nước, Thủ tướng cũng vậy. Quyền của ai và ai giao? Quyền của nhân dân và nhân dân giao bằng sự kết hợp giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Làm thế nào để nhân dân giao quyền mà không mất quyền, các cơ quan Nhà nước được giao quyền mà không tiếm quyền của nhân dân, đấy là vấn đề quyết định nhất và cam go nhất trong việc xây dựng Nhà nước của ta từ trước đến nay.
Hiến pháp 1946 do Hồ Chí Minh trực tiếp làm “Trưởng ban soạn thảo” đã in đậm dấu ấn của tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước cách mạng. Đó là một nhà nước có những yếu tố pháp quyền thể hiện trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực. Trong nội dung của Hiến pháp, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung khá gần gũi với tinh thần Montesquieu như đã nói ở trên. Ngay tại Điều 1 của Hiến pháp đã nổi rõ lên tinh thần ấy: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một nước dân chủ. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng Nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã có đường nét của tư duy về cái mà ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Ngay cả định chế luật sư cũng đã được đề ra.
Có thế nói, cơ cấu tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của Hồ Chí Minh về Nhà nước. Thật đáng tiếc là sau đó, những ý tưởng lớn ấy dần dần bị lãng quên do chịu ảnh hưởng của tư duy về “nhà nước chuyên chính vô sản”. Hệ lụy của nó thì chúng ta đều đã biết.
Vì thế, có thể nói, một trong những điểm son nổi bật của Đổi mới là việc quay trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, là trở lại với tư duy về Nhà nước pháp quyền. Phải trên tinh thần ấy mà tìm hiểu về “xã hội dân sự”.
II. XÂY DỰNG TỐT XÃ HỘI DÂN SỰ LÀ HIỆN THỰC HÓA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “QUYỀN HÀNH LỰC LƯỢNG ĐỀU NƠI DÂN”
1.Vai trò của xã hội dân sự
Vấn đề cơ bản nhất của “nhà nước pháp quyền” có ý nghĩa trực tiếp với xã hội dân sự là pháp quyền ở trên nhà nước. Trong một quốc gia của“pháp quyền”, để đảm bảo dân ủy quyền mà không mất quyền thì mọi việc phải công khai và minh bạch để dân tham gia có thể giám sát và kiểm soát. Đấy chính là lý do sâu xa cần phải có “xã hội dân sự”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tạo dựng cơ sở cho việc hình thành và phát huy sức mạnh của “xã hội dân sự” gắn liền với “nhà nước pháp quyền”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước không trùm lên xã hội dân sự, Nhà nước không nuốt mất xã hội dân sự và cũng không nuốt mất đời sống cá nhân. Coi trọng cả cộng đồng và cá nhân, Hồ Chí Minh đã hiểu rõ và phát huy được truyền thống cộng đồng là đặc điểm khá nổi bật của Việt Nam, của Phương Đông, đồng thời cũng vận dụng được thành quả về cá nhân của Phương Tây.
Ở các kiểu loại nhà nước không pháp quyền, mệnh lệnh được ban ra trực tiếp từ chủ thể nắm giữ quyền lực dưới các hình thức như chiếu chỉ, sắc dụ, sắc lệnh, nghị quyết... thành văn bản hay mệnh lệnh được phát ngôn, đều là những mệnh lệnh tuyệt đối một chiều từ trên xuống, không có sự phản hồi, càng không thể có sự phản biện xã hội dưới bất cứ hình thức nào, hoặc nếu có thì chỉ là hình thức mị dân. Ở đó, quyền lực được tập trung vào độc quyền cá nhân (nhà vua) hay một nhóm người định đoạt mọi vấn đề của đất nước. Đồng thời, sự chuyển giao quyền lực giữa các chủ thể quyền lực là cơ chế nối truyền (gia đình, dòng tộc, các nhóm quyền lực cùng lợi ích), quần chúng nhân đứng ngoài tiến trình này.
Hoàn toàn ngược lại với những điều ấy, với nhà nước pháp quyền, quyền lực là của nhân dân và chỉ ở nhân dân mà thôi, theo cách nói của Hồ Chí Minh thì “Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. Để là đối tác bình đẳng của Nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước, xã hội dân sự, theo cách hiểu thông thường, giữ vai trò là đối quyền của quyền lực Nhà nước. Thuật ngữ “đối quyền” có thể làm cho ai đó e ngại, nhưng mà về thực chất, là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước mà Nghị quyết của Đại hội X đã chỉ ra. Dân chủ, mở rộng dân chủ, lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc tiếng nói từ bên dưới, tạo điều kiện cho “dân mở miệng ra” như Bác Hồ đã từng nhắc nhở, mới có thể nhận được những thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh và sửa sai, nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối, chương trình, kế hoạch. Vì thế, người lãnh đạo phải khắc phục thói quen chỉ biết độc thoại mà lẩn tránh đối thoại.
Độc thoại gắn liền với nguyên lý loại trừ : Ai không theo ta, đồng ý với ta là chống ta! Tư duy hiện đại đã vượt qua sự cố chấp của “nguyên lý loại trừ” mà bước vào “nguyên lý bổ sung”: khuyến khích thái độ lắng nghe để tiếp nhận thông tin, nhằm làm cho tri thức của mình luôn luôn mới, theo kịp được với nhịp phát triển liên tục của cuộc sống. Sự mở rộng của tri thức do được bổ sung liên tục giúp hình thành và củng cố được ý thức và phong cách ứng xử khoan dung, cởi mở, thúc đẩy sự hòa hợp, tin cậy lẫn nhau. Vả chăng, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Sự tiến hóa đó không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp và cũng rất sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống con người trong xã hội.
Mà xã hội con người lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung, không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, nhằm dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, mà có thể thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm ra khả năng cùng thắng theo mô hình [thắng / thắng]. Đây không là một ảo tưởng, mà là sản phẩm của thời đại mới, với những thuộc tính mới được nảy sinh từ những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mà chỉ mới nửa thế kỷ trước đây chưa thể hình dung được. Hãy chỉ dẫn ra một hình ảnh mà tác giả “Thế giới phẳng. Tóm tắt thế kỷ XXI”, đã gợi ra để nói về một đặc điểm của thời đại mới: “Thế giới đã biến từ tròn thành phẳng. Ở mọi nơi bạn hướng về các hệ thống thứ bậc bị thách thức từ bên dưới, hay tự biến đổi từ các cấu trúc trên xuống [top-down] sang các cấu trúc ngang và cộng tác hơn”. Và “chúng ta đã đi từ chuỗi chỉ huy dọc để tạo giá trị sang một chuỗi chỉ huy ngang hơn nhiều để tạo giá trị”[4].
Phải chăng, các “tổ chức xã hội” sẽ tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hội chính là các tổ chức thực hiện các liên kết ngang, tạo nên cấu trúc của xã hội dân sự mà chúng ta đang cố gắng hình thành gắn liền với xây dựng nhà nước pháp quyền. Cần nhớ rằng, tư duy về Nhà nước pháp quyền được xác lập trên mối quan hệ giữa người cầm quyền và người công dân theo nguyên lý “chỉ huy những người bình đẳng với mình và phục tùng những con người mà mình hoàn toàn bình đẳng với họ”. Không chỉ bình đẳng trước pháp luật mà còn bình đẳng trong tư cách công dân bằng những quyền Hiến pháp đã quy định. Các“tổ chức xã hội” và những thành viên của họ sẽ “tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hội” bằng tư cách ấy và quyền ấy.
Nghị quyết Đại hội X khẳng định: “Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Tham gia bằng cách nào? Có rất nhiều cách, song, thuận lợi nhất là thông qua các tổ chức xã hội dưới mọi hình thức.
Gần đây, tổ chức “Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân” (CIVICUS) đã công bố những số liệu từ một cuộc khảo sát ở Việt Nam: 74% số công dân là thành viên tối thiểu một tổ chức, 62% là thành viên của từ 2 tổ chức, và tính bình quân mỗi công dân tham gia 2,3 tổ chức. Trong đó, nhóm hội viên lớn nhất thuộc về các tổ chức quần chúng, đoàn thể phụ nữ, tổ chức phúc lợi xã hội, các tổ chức cộng đồng địa phương, các tổ chức thể thao, vui chơi, giải trí, các tổ chức giáo dục, nghệ thuật, âm nhạc và các hội nghề nghiệp.
Sự đánh giá này đúng đến đâu chắc còn cần phải trao đổi kỹ. Tuy nhiên, đánh giá này cũng gợi lên một vấn đề: nếu biết tổ chức và khai thác tốt thì khả năng tham gia của các tổ chức xã hội vào quy trình lập pháp sẽ là sự thực hiện một cách thực tế và trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về “Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. Bởi lẽ, trí tuệ và sức mạnh của những con người của mạng lưới các tổ chức xã hội không nằm trong hệ thống các liên kết dọc của hệ thống chính trị hiện hành là hết sức lớn.
Đương nhiên, trong sự đánh giá nói trên thì còn khá nhiều những tổ chức nằm trong hoặc có mối liên hệ với hệ thống dọc đó, mà Mặt trận Tổ quốc với những thành viên của nó là một ví dụ. Là một tổ chức chính trị hết sức rộng lớn, có bề dày hoạt động cực kỳ phong phú, gắn liền với mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc, cũng có thể nói đó là một trong những nhân tố quyết định những thắng lợi đó, nhờ huy động được sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trên mọi chặng đường cách mạng, liệu MTTQ đã là một tổ chức nằm trong xã hội dân sự theo đúng nghĩa của nó chưa? Cần lưu ý một vấn đề là: trong khái niệm “các tổ chức xã hội” sẽ “tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hôi” bao gồm các thành viên nào của Mặt trận. Vì theo Điều lệ của Mặt trận: “MTTQ VN... là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị –xã hội –nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài”.
Vậy, khái niệm “tổ chức xã hội” sẽ tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hội có gồm cả các tổ chức xã hội đã tham gia vào MTTQVN, và các tổ chức xã hội nằm ngoài Mặt trận không? Nằm ngoài Mặt trận, song lại nằm trong Xã hội dân sự! Đây là một vấn đề lý luận có ý nghĩa thực tiễn lớn cần được nghiên cứu kỹ vì liên quan trực tiếp đến nội dung sẽ được trình bày dưới đây.
2. Về sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập pháp và phản biện xã hội trong xã hội dân sự
Khẳng định quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội X còn ghi rõ: “các cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với cuộc sống. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở để mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng đảng, chính quyền và hệ thống chính trị””(tr. 43). Đây là một bước mới trên quá trình dân chủ hóa xã hội.
Với chủ trương “... đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới...” như Cương lĩnh của Mặt trận đã xác định, Nghị quyết của Đại hội X đòi hỏi: “Nhà nước ban hành và bổ sung pháp luật để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”. Vậy thì, các “đoàn thể nhân dân” trong Nghị quyết có phải là các tổ chức xã hội mà Hội thảo này trao đổi về vai trò của nó trong “quy trình lập pháp của Quốc hội” hay không? Tiếp đó, tham gia vào “các quy trình lập pháp của Quốc hội”, công việc ấy có nằm trong nội hàm của khái niệm “phản biện xã hội” hay không? Nếu có, thì nội dung và cách thực hiện như thế nào. Có lẽ đây là những vấn đề phải thật tường minh. Phản biện cái gì và phản biện cho ai, nhằm mục đích gì? Điều quan trọng là sau khi đã xác định rõ cái lôgíc tất yếu cần phải có “phản biện xã hội”, thì việc nhận thức rõ đối tượng, nội dung và mục đích của phản biện xã hội mà các tổ chức xã hội nằm trong và nằm ngoài Mặt trận Tổ quốc định đảm nhận sẽ có ý nghĩa lớn đến việc tìm ra phương pháp đúng để tiến hành phản biện.
Với đặc điểm của thể chế chính trị chỉ một Đảng cầm quyền, để đảm bảo thực thi tốt vai trò và chức năng lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc cần được tổ chức tốt để thực hiện chức năng phản biện xã hội. Cùng với Mặt trận, phải làm sao để mọi tầng lớp thực hiện quyền và trách nhiệm của mình về “phản biện xã hội” qua các tổ chức xã hội chưa tham gia vào MTTQVN để có đóng góp vào quy trình lập pháp của Quốc hội.
Đó không chỉ là thực hiện yêu cầu của dân chủ hóa xã hội mà còn là nhu cầu của của việc hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và phát huy vai trò của Xã hội dân sự. Đó cũng là giải pháp khắc phục bệnh quan liêu, một trọng bệnh của Đảng cầm quyền, nguồn gốc của nhiều thoái hóa biến chất mà chúng ta đã biết. Chính vì thế, cùng với những đòi hỏi trên, để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội làm tốt chức năng phản biện xã hội theo yêu cầu của Đại hội X, cần khắc phục tính chất “nhà nước hóa” của Mặt trận cũng như của nhiều đoàn thể chính trị, xã hội, kể cả một vài tổ chức xã hội nghề nghiệp đã tham gia vào Mặt trận. Cái gọi là “nhà nước hóa” đó thể hiện trong mối liên kết dọc với cơ cấu tổ chức, phương thức điều hành, kể cả kinh phí hoạt động.
“Nhà nước hóa” đi liền với “hành chính hóa” đã tước bỏ hoặc làm nghèo nàn đi nội dung xã hội của sự tự quản trong tinh thần tự nguyện, bằng tính đa dạng, cực kỳ phong phú với nhiều chiều cạnh của các tầng lớp, các nhóm xã hội, các cá nhân. Họ có những lợi ích riêng biệt không hoàn toàn đồng nhất với nhau, với những đòi hỏi không ai giống ai, nhưng vì một mục tiêu chung mà cùng liên kết, hợp tác và cạnh tranh với nhau để tạo thành một hợp lực thúc đẩy sự phát triển. Tính đa dạng và phong phú đó thường tạo thành mạng lưới xã hội trong mối liên kết ngang của các tổ chức, tạo nên cấu trúc mạng của xã hội dân sự. Vì thế, phản biện xã hội, với nội dung toàn diện của nó, cần được hình thành một cách năng động, thường xuyên và quyết liệt từ xã hội dân sự .
Điều cần đặc biệt lưu ý là, trong bối cảnh mới của phát triển và hội nhập, yếu tố ý thức hệ không còn là rào cản của sự đồng thuận xã hội nhằm tạo ra động lực của sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thời đại, với thế và lực mới của dân tộc ta. Nội dung được ghi trong Cương lĩnh của MTTQVN dẫn ra ở trên đã nói rõ điều này. Mà làm như thế chính là học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây là sự trở lại vớ tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ sở xã hội của Nhà nước, đó cũng là nền tảng vững chắc của việc xây dựng Xã hội dân sự phù hợp với đặc điểm truyền thống và tâm lý Việt Nam.
Cơ sở xã hội đó là gì? Là dân tộc. Với Hồ Chí Minh, dân tộc không chỉ là địa bàn ứng dụng của lý tưởng cách mạng, mà dân tộc chính là chỗ xuất phát, mảnh đất màu mỡ và cội nguồn sáng tạo của lý tưởng cách mạng đó. Cơ sở xã hội mới của nhà nước ấy rất rộng lớn và không hề thay đổi phạm vi trong quá trình cách mạng. Đó là phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi, chỉ tăng lên về chất lượng để thành một tập hợp mới mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong đó, có thể có rơi rớt người này hoặc người khác, chứ không có chuyện loại bỏ tầng lớp này hoặc tầng lớp khác theo kiểu sử dụng “bạn đường” có thời hạn, để khi cần thì vứt bỏ. Trong tư tưởng và trong hành động, trong ứng xử với con người, với đồng bào mình của Hồ Chí Minh tuyệt đối không có chuyện đó.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước là nhất quán từ đầu cho suốt cả quá trình với cơ sở xã hội là dân tộc như vậy, phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi mà chỉ được nâng lên về chất lượng để thành một dân tộc mạnh mẽ với trình độ mọi mặt được nâng cao dần lên. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không hề có chuyện khi bước lên một giai đoạn cao hơn thì Nhà nước thu hẹp cơ sở xã hội ấy lại, gạt bỏ một số giai cấp và tầng lớp. Không tầng lớp xã hội nào “nửa đường đứt gánh”, càng tuyệt đối không có chuyện “qua sông đắm đò ”.
Với cơ sở xã hội đó, Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là công bộc của dân, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Nhà nước ấy không hoạt động đơn độc mà gắn kết với các đoàn thể và các tổ chức xã hội khác. Chính đó là sự ươm mầm cho xã hội dân sự mà chúng ta đang nói đến hôm nay.
Ở những bước đi đầu tiên nhằm đặt nền tảng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với xã hội dân sự, Hồ Chí Minh đã kết hợp được việc phát huy truyền thống cộng đồng, một nét nổi bật trong truyền thống văn hóa Việt Nam và phương Đông với sự vận dụng những thành tựu về giải phóng cá nhân cùng với những thành quả của nền dân chủ phương Tây . Đó là, ngoài nhà nước và thường đấu tranh với nhà nước, nhiều tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có vai trò lớn, trở thành lực lượng thúc đẩy tiến bộ xã hội như các đảng chính trị, các công đoàn các hiệp hội, lực lượng của các phương tiện thông tin đại chúng, các nhóm lợi ích, các nhóm gây sức ép... hoạt động của các lực lượng đó tạo thành nền dân chủ phương Tây. Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc một số thành tựu đó để vận dụng sáng tạo vào thực tế đất nước mình.
Hiện đại hóa truyền thống, Hồ Chí Minh đã vân dụng nhuần nhuyễn những thành tựu dân chủ của xã hội phương Tây gắn với truyền thống cộng đồng của phương Đông trong việc thúc đẩy việc xây dựng các đoàn thể quần chúng và các lực lượng xã hội khác, nhằm mục đích phát huy tính chủ động và tinh thần tự quản của mỗi người dân tự lo liệu cuộc sống cho mình và cho cộng đồng, chứ không nhất nhất đòi hỏi phải có bàn tay của nhà nước, đồng thời làm rõ mối quan hệ của các tổ chức ấy với Nhà nước.
Ở đây, tính tự quản trong cộng đồng làng xã truyền thống được kế thừa và nâng cao trên một cơ sở xã hội mới. Làm như thế chính là thiết thực phát huy sức mạnh làm chủ của người dân trong sinh hoạt xã hội. Nếu nhớ lại buổi đầu dựng nước, ngay sau Tuyên ngôn Độc lập, theo những công việc, những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, những quyền chính trị, quyền kinh tế và quyền xã hội của người dân đã được đặt ra một cách mạch lạc và đầy đủ. Đó là một thực tế đáng kinh ngạc! Tiếc rằng sau đó, đời sống thời chiến kéo dài ngót 30 năm đã không cho phép thực thi một cách trọn vẹn.
Thế nhưng, từ bài học ấy có thể khẳng định dứt khoát rằng dân ta đủ trí tuệ và nghị lực để vận hành quá trình dân chủ hóa xã hội. Một trong những ghi nhận của quá trình ấy là việc cần xây dựng và hoàn thiện “xã hội dân sự” để phát huy lên một trình độ mới trí tuệ và nghị lực ấy. Tư tưởng e dè, nghi ngại với “xã hội dân sự” thực chất là tư tưởng không tin vào dân, xa dân, tệ hơn nữa là chỉ muốn làm “quan phụ mẫu của dân”, kiêng sợ sức mạnh của dân. Đó chính là biến thái của quan điểm “dân khả sử do, bất khả sử tri ” (dân có thể khiến họ noi theo, không thể khiến họ hiểu biết). Vì nếu dân hiểu biết thì khó cưỡi đầu cưỡi cổ. Gọi đúng tên, nỗi sợ đó là biểu hiện sự tha hóa của quyền lực. Để các tổ chức xã hội có thể tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hội, phải thanh toán tận gốc quan điểm lạc hậu đó.
Chính ở đây cần đến tính năng động và tự giác của mỗi một người dân trong guồng máy hoạt động xã hội rất rộng lớn, đa dạng, cực kỳ phong phú song cũng hết sức phức tạp. Tính năng động và tự giác đó được thể hiện trong vai trò tự quản những công việc mà không cần phải có sự hiện diện của Nhà nước. Đúng hơn, Nhà nước không phải nhúng tay vào tất cả các hoạt động của xã hội mà người dân có thể tự thu xếp tốt hơn nhiều. Tính năng động xã hội vì vậy được đẩy lên cao.“Xã hội dân sự” đảm đương sứ mệnh đó. Cần nhớ rằng, với tất cả khuyết tật vốn có, nền dân chủ làng xã của ta xưa kia cũng đã nuôi dưỡng được phần nào tính tự quản. Tác giả của “La commune anammite”, P. Ory, đã từng lưu ý những nhà cai trị thực dân rằng: “Làng của Việt Nam tự quản lý lấy chính nó. Nhà nước không nên can thiệp vào công việc của làng, trừ phi làng không thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng thuế thân, thuế đất, đi phu, đi lính”[5].
Quả có vậy, các tổ chức tộc họ, phe giáp, phường hội... với những vai trò khác nhau phải lựa chọn cách ứng xử trước áp lực của lệ làng, của hương ước. Sự chế ước của dòng họ, nhân tố có khả năng dung hòa các quan hệ xã hội khác nhau, tạo nên đời sống tương đối ổn định của cái làng Việt Nam trong tính tự quản vốn có của nó. Những cái đó đã mất đi cùng với sự ra đời của một cách tổ chức xã hội mới sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, đặc biệt là sau 1954 ở Miền Bắc. Cơ cấu xã hội ở nông thôn được hình thành trong quá trình hợp tác hóa đã đơn giản hóa đến mức tối đa, chỉ còn lại một bên là những nông dân với các hộ gia đình xã viên, bên kia là Ban Chủ nhiệm HTX, Đảng ủy, Ủy ban và các đoàn thể, bao gồm cả Mặt trận Tổ quốc đều đã được “nhà nước hóa”. Các hình thức tự quản vốn có như đã nói ở trên hầu như bị xóa sạch. Không một lực lượng xã hội nào được tồn tại có tính tự trị, tự quản tương đối độc lập. Người ta đã không hiểu được rằng, khi phá vỡ tính tự trị của làng xã thì cũng đồng thời xóa mất tính trung hoà do sự chế ước và dung hợp của những quan hệ cộng đồng tạo nên.
Sự tích tụ những bất đồng, mâu thuẫn giữa hai khối lợi ích và quyền lực: một bên là đông đảo bà con nông dân, bên kia là tầng lớp lãnh đạo mới, không còn yếu tố trung hòa nào nữa, sẽ ươm mầm cho những bùng nổ xã hội. Bài học Thái Bình 1997 đã nói rõ điều đó. Bài học ấy cũng giúp làm sáng tỏ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc xây dựng xã hội dân sự để thực hiện tốt quyền và trách nhiệm “phản biện xã hội”, trong đó có quyền và trách nhiệm tham gia vào quy trình lập pháp của Quốc hội.
Chất lượng của phản biện xã hội tùy thuộc vào sự hoạt động của xã hội dân sự. Các tổ chức xã hội muốn thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội của mình tùy thuộc vào chất lượng hoạt động của xã hội dân sự, và ngược lại, hoạt động tốt của các tổ chức xã hội sẽ giúp nâng cao chất lượng của xã hội dân sự. Đó chính là biện chứng của phát triển. Nếu không thế, thì trong nhiều trường hợp, lại sẽ rơi vào tình trạng tập hợp chính những cán bộ, những chuyên gia đã từng tham gia vào việc hoạch định những chủ trương, chính sách ngồi lại dưới cái ô của “tổ chức xã hội” để “phản biện” những tác phẩm của chính mình.
Không thật sự đổi mới tư duy, bứt khỏi những đường mòn có sẵn, “quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu, Tới hay lui cũng ngần ấy mặt người” thì lại sẽ tạo ra một sự nhàm chán mới, rất lãng phí công của và thời gian. Ở nhiều nơi, khá phổ biến cái lối mòn “Đảng cử dân bầu”, hoặc ngụy trang dưới cái khẩu hiệu rất hay là “ý Đảng, lòng dân” mà thật ra là “oan” cho Đảng và “ức” cho dân vì sự “quanh quẩn, tới lui” đó chỉ do một số người sắp đặt theo những công thức cũ kỹ ẩm mốc rêu phong. Những sáo mòn khô cứng không chịu, và không chịu nổi sự chiếu rọi, phán xét của ánh sáng mặt trời, công khai minh bạch. Có phản biện xã hội lành mạnh và quyết liệt sẽ giúp tạo ra ánh sáng minh bạch, công khai, giúp xóa dần những rêu phong, ẩm mốc kia.
Rồi đây, những tổ chức xã hội nghề nghiệp, những hiệp hội, những câu lạc bộ, những tổ chức phi chính phủ, các phương tiện thông tin đại chúng, các nhóm lợi ích... sẽ dần dần có vai trò lớn, nhất là khi “Luật thành lập Hội” được ban hành. Một mạng lưới dày đặc các mối tương tác và trao đổi giữa những cá nhân và cá nhân, cá nhân và cộng đồng được hình thành có tổ chức.
Tất cả những hình thức tổ chức đó giúp tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối với Nhà nước, thực hiện trách nhiệm tham gia vào quy trình lập pháp của “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” là Quốc hội.
“Thế giới này không phải được vận hành bởi những người đúng, mà bởi những người có khả năng thuyết phục người khác rằng mình đúng”. “Xã hội dân sự” với chức năng “phản biện xã hội” của nó có ý nghĩa trực tiếp và rất lớn lao đối với sự vận hành xã hội trong một thế giới đầy biến động ta đang sống! Các tổ chức xã hội tham gia vào quy trình lập pháp , nếu được thực hiện và thực hiện tốt sẽ là một ghi nhận của chức năng phản biện xã hội mà Đảng đang chủ trương. Chúng ta hoàn toàn có quyền lạc quan về triển vọng của nó, nếu chúng ta trực tiếp bắt tay vào những công việc thiết thực, cụ thể, có thể kiểm chứng tính hiệu quả của nó, mà không rơi vào bệnh thành tích khoa trương, tệ hơn là nói một đằng, làm một nẻo đang là căn bệnh trầm kha cần có liều thuốc đặc trị.
Hy vọng rằng quy trình lập pháp của Quốc hội tìm ra được liều thuốc đặc trị đó với quy trình tham gia của các tổ chức xã hội. Được vậy thì các nghiên cứu, hội thảo về “Xã hội dân sự và việc tham gia của các tổ chức xã hội vào Quy trình lập pháp của Quốc hội” sẽ không lãng phí về thời gian và tiền bạc và có sức thuyết phục về sự cần thiết của nó.


[1] Quý Đỗ, Thế nào là xã hội công dân, Tạp chí Tia Sáng ngày 5.5.2006
[2] Đặng Ngọc Dinh, Đừng sợ xã hội dân sự, Báo Tuổi Trẻ cuối tuần ngày 21.45.2006
[3] Vấn đề lớn cần được bàn lại, Báo Sài gòn Giải phóng ngày 22.8.2006
[4]Vấn đề lớn cần được bàn lại, Báo Sài gòn Giải phóng ngày 22.8.2006
[5] P. Ory, La commune anammite, Challamel-Paris, 1894

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters