Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

28 thg 6, 2010

Vai trò của thể chế đối với sự phát triển ?

Vai trò của thể chế đối với sự phát triển ?
Trả lời:
Như một vấn đề mang tính chất phương pháp luận đầu tiên chúng ta phải thống nhất về nội hàm của khái niệm “ thể chế”?. Vậy tựu chung lại thể chế là gì?
Khi bàn đến vấn đề thể chế nhà nước”, nhiều nhà nghiên cứu coi chúng chính là các quy tắc và luật lệ mà nhà nước dùng để điều chỉnh chính nó và điều chỉnh các tác nhân phi nhà nước. tuy nhiên, cách hiểu đó mới chỉ dừng lại ở cấp độ “hiện tượng” mà chưa phải là “bản chất”.
Đúng là, thể chế nhà nước vẫn tồn tại duới các chuẩn mực pháp luật các chính sách, thủ tục, hoặc các tiêu chuẩn do nhà nước ban hành; thế nhưng chúng lại không đồng nhất với những cái đó. Nói cách khác, những chuẩn mực, luật lệ…chỉ trở thành thể chế khi chúng được các chủ thể tuân thủ rộng rãi, tức là khi họ coi đó là những mô thức phổ bieenscuar hành vi trong một lĩnh vực hoạt động xác định. Bởi vậy, bản chất của thể chế là những mô thức lặp lại của hành vi trong một cuộc chơi, mà dựa vào đó, các chủ thể tham dự có thể tiên liệu được kết quả của hành vi.
Theo nghĩa đó không nên hiểu thể chế nhà nước chỉ đơn thuần là luật lệ, hay chính sách, hoặc chuẩn mực do nhà nước ban hành mà chính là nhưng mô thức hành vi có tính phổ biến, tính tin cậy và tính xác định ( có thể đoán định) mà các luật lệ hay chính sách nhà nước co thể mang lại trong một lĩnh vực xác định.
Phát triển đó không phải là mục tiêu của riêng một quốc gia mà đó còn là mục tiêu theo đuổi của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. sự phát triển là trạng thái cho phép chúng ta thoải mái với thỏa mãn những nhu cấu tốt đẹp của con người. Ở đâu con người có năng lực nhận thức tốt hơn, có năng lực và điều kiện hưởng thụ tốt hơn, có điều kiện để tư duy một cách tự do và sáng tạo, có sức cạnh tranh tốt hơn, tóm lại, ở đâu con người cảm thấy hạnh phúc thì ở đó có sự phát triển. Phát triển, suy cho cùng, chính là sự tăng trưởng những giá trị của con người chứ không phải là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế là một yếu tố để biểu thị năng lực thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng không phải là tất cả...nói như vậy không có nghĩa là những quốc gia đang phát triển từ bỏ tăng trưởng trong quá trình phát triển của mình. Bởi vì dù sao thì tăng trưởng cũng là cơ sở vật chất của sự phát triển nhưng suy cho cùng thì sự tăng trưởng về kinh tế không ngoài mục đích nào khác là để thỏa mãn những nhu cầu của con người.
Để có được sự phát triển không phải là một việc làm dễ dàng. đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay nhà nước đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn: vấn đề chủ quyền, khủng hoảng tài chính, tội phạm có tổ chức, môi trường và sự suy giảm chức năng của chính mình ( trong việc: bảo vệ an ninh, chu cấp phúc lợi, duy trì sự công bằng…). đứng trước những thực trạng đó, câu hỏi được đặt ra là nhà nước phải thay đổi phương thức cai trị như thế nào để có thể thích nghi với những tác động của toàn cầu hóa khi mà những phương thức cũ đã lạc hậu và tỏ ra không mấy hiệu quả trong bối cảnh hiện tại. trong tình hình đó những phương thức cũ không những không giúp nhà nước có thể giải quyết và thích ứng được với những vấn đề được đặt ra mà nó còn gây nên sức ỳ và tạo thành lực cản đối với sự phát triển.
Muốn có được sự phát triển thì tất cả các nhà nước hiện này đều phải có sự “tự điều chỉnh” chính mình cho phù hợp trước những yêu cầu của thời đại, theo hướng nâng cao năng lực và tính hiệu quả. Và để làm được điều đó, trước hết nhà nước phải tự cải thiện bản thân; thứ nữa, phải cho phép những tác nhân phi nhà nước chia sẻ gánh nặng phát triển và công bằng xã hội với nó. Cần nhấn mạnh thêm rằng nhà nước phải chuyển dịch chức năng của nó từ chỗ là chủ thể trực tiếp và đơn độc tạo ra sự phát triển thành người hợp tác, người tạo ra chất xúc tác và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khác cùng chia sẻ trách nhiệm.
Cả ở nhiệm vụ thứ nhất lẫn nhiệm vụ thứ hai, điều mà các nhà nước bắt gặp đó chính là vấn đề củng cố và tạo dựng thể chế, với nhiệm vụ thứ nhất nhà nước phải kiện toàn và thay mới chính nó(vì nhà nước vốn hiện thân như một tập hợp các thể chế). Với nhiệm vụ thứ hai nhà nước cần tạo ra các thể chế - để nương vào đó, những tác nhân phi nhà nước co thể phát huy hết khả năng của chúng đóng góp cho công cuộc phát triển.
Có thể thấy cả ở hai nhiệm vụ nêu trên đều cần tới sự “góp mặt” của thể chế. Ta thấy được mặt logic của vấn đề chính là “ không thể có sự phát triển bền vững trong điều kiện thiếu vắng một nhà nước hiệu quả. Và Người ta buộc phải thừa nhận rằng, người ta cần một nhà nước hiệu quả - chứ không phải là một nhà nước tối thiểu – là trung tâm của mọi sự phát triển. nhưng cũng không thể quên rằng để có được một nhà nước hiệu quả thì việc tạo ra nhưng thể chế kịp thời và phù hợp và yêu cầu tất yếu.
nhà nước – thị trường – xã hội dân sự luôn là ba trụ đỡ của sự phát triển, trong đó nhà nước giữ vai trò trung tâm thực hiện chức năng điều tiết đối với hai tác nhân còn lại, nhưng trước hết, để có thể tạo ra được tính ổn định và sau đó có được sự phát triển thì nhà nước luôn cần tới các thể chế để điều tiết cũng như hỗ trợ cho hoạt động của thị trường cũng như xã hội dân sự. thiếu đi một nhân tố cũng đồng nghĩa với việc khó có được sự phát triển một cách đúng nghĩa.
Một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới đã đi tới kết luận: tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa thể chế nhà nước với tình trạng phát triển, và thể chế giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với chỉ số tăng trưởng kinh tế (đầu tư) và những chỉ số chất lượng cuộc sống. ví dụ: nếu một nhà nước mà thay đổi liên tục chính sách cũng như cam kết của nó; hoặc cố ý để chúng trở nên mập mờ, thì cũng chẳng khác gì tạo ra một môi trường phi thể chế. Trong tình thế đó, doanh nghiệp và các nhân ngày hôm nay không dám chắc về những cái gì sẽ co lợi hay không co lợi, hợp pháp hay không hợp pháp vào ngày mai. Bởi vậy, họ sẽ đi vào nền kinh tế không chính thức, hoặc rút vốn ra nước ngoài – mà tất cả những điều đó đều làm phương hại đến phát triển.

(nguồn : Phạm Thái Việt, vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế nhà nước dưới tác động của toàn cầu hóa.)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters