Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

17 thg 9, 2011

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần II


YesMan2008, X-Cafe sưu tầm & hiệu đính
Câu chuyện sau sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn. Ngày xửa ngày xưa, những tên lính gác nhanh nhẹn đã sốt sắng cảnh báo lãnh chúa rằng sẽ có một cơn lũ. Gã lãnh chúa này chạy ngay đến thánh đường và cầu xin Chúa cứu giúp. Khi mà nước lũ tràn đến những bậc thềm của tòa thánh đường, một nông nô đã chèo một con thuyền nhỏ đến chỗ bậc thềm và đề nghị vị lãnh chúa lên thuyền. “Không, cám ơn. Ta tin vào Chúa, và ta tin vào công lý. Chúa sẽ cứu ta.” Khi nước dâng lên, gã lãnh chúa bước lên bục giảng kinh. Lần này một chiếc xuồng máy chạy vội đến chỗ ông ta. Khi nước vỗ mạnh vào bục giảng kinh, người lái tàu la lên: “Tôi sẽ cứu ngài. Hãy nhảy lên đây!” Lại một lần nữa gã lãnh chúa quý tộc đáp lại: “Đừng lo. Ta tin vào Chúa. Chúa sẽ cứu ta. Ta không cần những cái máy ồn ào.” Cuối cùng, nước đã nhấn chìm thánh đường. Khi lãnh chúa nắm được đỉnh ngọn tháp cao nhất, thân thể ông ta bị sóng đánh tả tơi. Một chiếc trực thăng bay đến trên đầu ông ta. Viên phi công hét lên: “Xin ngài, ông chủ của tôi. Hãy nắm lấy cái thang này.” Gã lãnh chúa lại đáp: “Đừng lo. Ta tin vào Chúa. Chúa sẽ cứu ta.” Một lúc sau, nước dâng lên cao hơn và gã lãnh chúa chìm nghỉm.
Trên thiên đường (suy cho cùng ông ta là một vị lãnh chúa tốt), ông ta gặp được Chúa. “Chúa”, ông nói, “tôi tin Ngài cả đời. Tôi làm theo mọi điều mà thầy tu khuyên bảo tôi. Khi mà những người khác nghi ngờ và quay sang nhờ đến máy móc, tôi tin Ngài sẽ cứu tôi. Nhưng Ngài làm tôi thất vọng.”
“Tên ngốc!” Chúa ngắt lời. “Ngươi nghĩ ai đã đưa thuyền, xuồng máy và trực thăng đến hả!”
Ai không tuân theo dòng chảy của chủ nghĩa duy vật lịch sử, người đó sẽ bị chết chìm dưới dòng chảy đó. Marx mô tả dòng chảy:
Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có … những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi xét những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng cần phân biệt cuộc đảo lộn vật chất – mà người ta có thể xác nhận với một sự chính xác của khoa học tự nhiên – trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy.14
Bởi vì chủ nghĩa tư bản dựa trên hệ thống phân chia giai cấp nên tất yếu dẫn tới cách mạng và thắng lợi của giai cấp công nhân. Tác phẩm bất hủ của Marx, cuốn Tư Bản đã phác họa “những xu hướng đang tác động và đang được thực hiện với một tất yếu gang thép“.15 Chỉ có một xã hội không giai cấp mới có thể tránh khỏi được các cuộc cách mạng. Và theo quan điểm của Marx, một xã hội không có giai cấp cuối cùng sẽ xuất hiện. Những nhà tư bản thối nát cuối cùng sẽ bị tiêu diệt. Sau nhiều thế kỷ bị chiếm đoạt thành quả của mình, cuối cùng những người công nhân sẽ được tự do.
Nếu chủ nghĩa tư bản “tất yếu” phải sụp đổ để biến thành chủ nghĩa xã hội, thì chắc hẳn chủ nghĩa phong kiến phải sụp đổ để biến thành chủ nghĩa tư bản? Có phải chủ nghĩa tư bản là điểm dừng cần thiết trên con đường tiến tới chủ nghĩa cộng sản? Nếu vậy thì đó không phải là một cuộc tàn sát vô cớ hay một cuộc nổi dậy kém may mắn của nhân loại như nhiều người xã hội chủ nghĩa không tưởng quan niệm. Marx bị cự tuyệt bởi những người lãng mạn phản khoa học, những người mô tả chủ nghĩa tư bản như là một tai nạn tồi tệ do những kẻ xấu xa tạo ra. Thực ra, Marx cũng viết những lời tán dương hùng hồn dành cho các nhà tư bản. Bởi vì theo quan điểm của ông, chủ nghĩa tư bản đã giải phóng con người thoát khỏi những điều kiện tồi tệ hơn. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx không dành cho những tay lái buôn ngớ ngẩn có óc hoài cổ:
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục … Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.16
Marx đã phê phán giai cấp tư sản nhưng ông lại dành những lời công kích hiểm độc nhất cho những người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhưng bất đồng quan điểm với ông. Không phải là người có thể tập hợp được những người khác quanh mình. Ngay cả với những người bạn chân thành nhất, ông cũng chỉ giống như một con mãng xà đang cuộn tròn mình lại. Marx có lẽ sẽ rất căm ghét đảng Xanh và mơ những thành viên của nó bị nghẹn vì những Quả Nho ngớ ngẩn của họ. Ông viết rằng chủ nghĩa tư bản “đã cứu một bộ phận đáng kể dân chúng khỏi sự ngu ngốc của cuộc sống thôn quê”.17 Ông sẽ đáp lại những người ủng hộ chủ trương “quay về với thiên nhiên” bằng những cuốn sách lịch sử để họ hiểu cuộc sống thời kỳ tiền công nghiệp khủng khiếp như thế nào. Marx đã đáp lại một cách gay gắt cuốn Triết học của sự khốn cùng của Pierre Proudhon bằng cuốn Sự khốn cùng của Triết học. Những người thông minh không cố gắng xóa bỏ hay “nhớ lại” những giai đoạn lịch sử và gửi chúng trở về công xưởng nhỏ bé của Chúa để sửa chữa.
Chủ nghĩa tư bản là một điều kiện tất yếu cho chủ nghĩa xã hội. Bởi vì chủ nghĩa tư bản sản xuất ra rất nhiều của cải. Nó cho phép một hệ thống ít phải điều hành hơn là chủ nghĩa xã hội có thể kế tục. Các quốc gia tiền tư bản chủ nghĩa không thể hy vọng vào việc làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa để lật đổ các lãnh chúa hay Nga Hoàng. Marx không để ý tới nước Nga. Ông cũng không trông chờ chủ nghĩa cộng sản sớm xảy ra ở Đức, bởi vì chỉ có 4% lao động nam giới làm việc trong các công xưởng lúc bấy giờ. Những xiềng xích có lẽ sẽ bị gãy vụn đầu tiên ở Anh và ở Pháp, những thành trì của chủ nghĩa tư bản tiên tiến. Nước Pháp sẽ báo hiệu khi nào nước Đức chín muồi cho chủ nghĩa cộng sản: “Khi tất cả những điều kiện bên trong đã chín muồi, ngày phục sinh của nước Đức sẽ được báo hiệu bằng tiếng gáy của chú gà trống xứ Gô loa.”18
Tư Bản và sự sụp đổ của Chủ nghĩa Tư bản
Marx không chỉ cao ngạo chờ đợi tiếng gáy của chú gà trống. Thay vào đó ông tự cao tự đại thảo ra một công trình phân tích cẩn thận và đầy đủ về chủ nghĩa tư bản là cuốn Tư Bản. Trong thập niên 1850, Marx tự chôn mình trong đống sách giáo khoa kinh tế học ở Bảo tàng Anh quốc ở London. Gia đình ông nhịn đói trong khi ông phân tích sự khổ sở trừu tượng của giai cấp vô sản. Gia đình Marx sống trong một căn hộ nhếch nhác ở một trong những khu nghèo nhất ở London. Một mật thám theo dõi Marx đã mộ tả chân dung sống động hiếm có về sự bần cùng mà gia đình ông phải chịu đựng:
Khi một ai đó bước vào phòng của Marx, mắt họ bị cay xè vì khói than và mùi thuốc lá tới mức lúc đầu người ta phải dò dẫm y như ở trong một cái hang… Mọi thứ đều bẩn thỉu và đầy bụi, ngay cả việc ngồi xuống cũng hết sức nguy hiểm. Chỗ này thì có cái ghế ba chân, chỗ kia thì bọn trẻ chơi đùa và họ chuẩn bị cơm nước trên một cái ghế có vẻ còn nguyên vẹn.
Đối với bản thân Marx, “ông là một người cực kỳ bừa bãi, hay chỉ trích người khác cay độc, một chủ nhà nghèo khổ. Ông sống giống kiểu dân gipsy. Hiếm khi thấy ông tắm, chải chuốt và thay đồ lót. Ông còn thường xuyên say bí tỉ. Ông thường tiêu phí thời gian của ngày một cách vô ích, nhưng nếu ông phải làm việc thì ông làm việc cả ngày đêm không mệt mỏi”. Jenny mặc dù lớn lên trong gia đình quý tộc “nhưng cũng chịu được cảnh nhà cửa bần cùng như thế này”.19
Gia đình Marx mất ba đứa trẻ vì bệnh viêm phổi, viêm phế quản và bệnh lao trong năm năm bất hạnh ở London. Điều khủng khiếp nhất là những người làm dịch vụ tang lễ lại không cho nợ. Jenny trở nên vô cùng phiền muộn. Đã có lần bà phải đi ăn xin 2 bảng để mua quan tài cho đứa con. Mặc dù Marx thường hay thô lỗ với những người xung quanh, nhưng ông vẫn còn chút lòng thương xót với những đứa con của mình. Bản thân ông cũng suy sụp khi chúng qua đời:
Bacon nói rằng những người thực sự quan trọng có rất nhiều mối liên hệ với thiên nhiên và với thế giới. Họ có rất nhiều thứ để quan tâm nên họ dễ dàng vượt qua những mất mát. Tôi không thuộc về những người quan trọng như vậy. Cái chết của những đứa con đã hủy hoại sâu sắc trái tim và khối óc của tôi và tôi cảm thấy sự mất mát chỉ như mới ngày hôm qua thôi.20
Marx cố nhiên quy cảnh ngộ tuyệt vọng của mình cho giai cấp tư sản và hứa là sẽ bắt họ phải trả giá cho những tai họa của gia đình ông và sự ốm đau của chính ông, kể cả những đám mụn đỏ trên mặt ông.
Marx hiếm khi tự trách mình. Lẽ ra ông phải làm như vậy. Marx còn ý thức rất trẻ con về kinh tế gia đình. Có người đã mô tả điều đó giống như việc một đứa trẻ cứ hét to ở đầu con kênh này và chẳng có trách nhiệm gì ở đầu kia. Nếu tính những món quà từ gia đình Jenny và Engels gửi cho và những khoản nhuận bút cho những bài báo trong tờ New York Daily Tribune thì gia đình Marx phải “kiếm” được một khoản tương đương với thu nhập của một gia đình trung lưu cấp thấp. Trong những năm tháng khốn khó nhất của họ, họ chỉ kiếm được một khoản thu nhập gấp ba lần thu nhập của một công nhân không có kỹ năng. Một nhà thơ cấp tiến người Đức cũng bị trục xuất khỏi quê hương, viết rằng một khoản thu nhập tương tự như của Marx lúc nào cũng có thể mua được cho ông “một miếng bò bít tết thơm ngon mang hương vị tha phương”.21
Nhưng thay vì thường xuyên chăm lo gia đình mình, Marx đầu tư tiền vào những tờ báo chính trị và đàn piano, âm nhạc, những bài tập khiêu vũ cho những đứa con của mình! Mặc dù là vợ của một nhà cách mạng nhưng Jenny vẫn cứ in những giấy viết xa xỉ ghi tên mình là “Nữ Nam tước Von Westphanlen”.
Vấn đề trở nên tồi tệ thêm khi Marx làm cho người hầu gái mang thai (cô ta là một món quà từ nhà Von Westphanlen). Một lần nữa Marx chối bỏ trách nhiệm của mình. Ông nói với Jenny rằng Engels là cha đứa bé. Người hầu gái bỏ đi một thời gian, rồi sau đó quay trở về với một đứa trẻ tóc rậm, da hơi ngăm đen. Đứa bé sau này được đem cho người khác làm con nuôi.

Còn tiếp 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters