3.Marx đóng góp
cho kinh tế học hiện đại những gì? Khi mỉa mai tính thiết thực của một lý
thuyết nào đó của đồng nghiệp, nhà kinh tế học Joan Robinson thường nói: “Hãy
tưởng tượng một con chó chạy qua cánh đồng đuổi bắt một con cáo. Con chó đi
theo mùi của con cáo. Lý thuyết của đồng nghiệp tôi là con bọ chét trên lưng
con chó đó.”
Đối với hầu hết
các nhà kinh tế chính thống ở Mỹ và Anh, các lý thuyết kinh tế của Marx là
những con bọ chét đó. Trong phạm vi lý thuyết kinh tế chính thống, sự thách
thức của Marx chỉ là thùng rỗng kêu to. Paul Samuelson mô tả học thuyết giá trị
lao động là sự ngụy biện siêu hình hay sự ngụy biện định nghĩa.
Trong cuộc Đại
Suy thoái, George Bernard Shaw đã cố thuyết phục John Maynard Keynes về những
ưu điểm của Marx. Keynes đã phủ định lại:
Cảm nghĩ của
tôi về cuốn Tư Bản cũng giống như cảm nghĩ của tôi về kinh Koran. Tôi biết rằng
nó quan trọng về mặt lịch sử. Và tôi biết có nhiều người, mặc dù không phải là
dốt nát nhưng lại coi nó là Hòn đá tảng của mọi Thời đại và chứa nhiều nguồn
cảm hứng. Tuy nhiên khi tôi xem kỹ nó, tôi cảm thấy không thể giải thích được
là tại sao nó lại có được những tác động như vậy. Cách bút chiến khoa học lỗi
thời và tồi tàn của nó dường như hoàn toàn không phù hợp với mục đích này.
Nhưng như tôi đã nói, tôi chỉ cảm thấy nó giống hệt với kinh Koran thôi. Làm
thế nào mà hai cuốn sách này lại có thể đem cảnh nước sôi lửa bỏng đến một nửa
thế giới? Tôi không thể hiểu nổi. Rõ ràng có nhược điểm gì đó trong sự hiểu
biết của tôi. Ngài có tin vào cuốn Tư Bản cũng như kinh Koran không? Hay chỉ có
cuốn Tư Bản thôi? Cho dù có bất cứ giá trị nào về xã hội học gần đây của cuốn
Tư Bản, tôi dám chắc rằng giá trị kinh tế đương thời của nó (ngoài một vài điểm
lóe sáng nhưng không liên tục và không có tính xây dựng ra) là bằng không. Ngài
hứa sẽ đọc lại nó một lần nữa chứ, nếu tôi cũng làm vậy?
Shaw đọc lại.
Keynes đọc lại. Keynes có nhìn thấy ánh sáng hay Thánh địa Mecca không? Ông không thấy gì:
ʺTôi ưa thích
Engels hơn cả. Tôi có thể thấy rằng họ đã tạo ra một phương pháp tiến hành nào
đó và một lối viết rất rẻ tiền. Còn những người kế tục họ đã duy trì lòng trung
thành đối với họ. Nhưng nếu ngài bảo tôi rằng họ đã phát hiện ra một đầu mối
của một bí ẩn kinh tế nào đó, thì tôi xin đầu hàng ʺ.35
Kể từ khi
Keynes thiên tài như vậy đầu hàng thì hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại đã
từ bỏ các cuộc luận chiến và ngừng nghiên cứu Marx. Theo Frank Hahn, một nhà
phê bình xuất sắc chủ nghĩa tư bản tự do kinh tế thì: “Hầu hết những người
Marxist chưa bao giờ đọc Marx cả. Thế nên, bạn không thể trách họ.”
Tuy vậy, Marx
vẫn còn núp đằng sau những lập luận của hàng nghìn nhà kinh tế học cấp tiến
xuất bản Tạp chí Kinh tế Chính trị cấp tiến. Họ có một tiếng nói mạnh mẽ ở Đại
học Massachusetts ở Amherst. Từ nguyên của từ “cấp tiến”
(radical) là từ “radic” tức là gốc rễ, giống với (radish) củ cải vậy. Y như
Marx, các nhà kinh tế học cấp tiến tin rằng cái gốc của lý thuyết kinh tế học
hiện đại bị mục nát trong sự phân tích của nó về chủ nghĩa tư bản. Dù sao những
người cấp tiến không muốn chịu trách nhiệm cho tất cả những câu mà Marx thốt ra
hoặc mọi lời tiên đoán mà ông ta công bố.
Một vài người
cấp tiến vẫn còn ôm lấy học thuyết giá trị lao động của Marx. Tuy nhiên, tất cả
bọn họ đều nhấn mạnh đến vấn đề kiểm soát trong chủ nghĩa tư bản. Các ông chủ
tìm mọi cách “chia để trị”, và duy trì sự kiểm soát ở nơi làm việc và trong
phòng bỏ phiếu. Nhà Marxist người Ba Lan Michal Kalecki đã lập luận rằng hồi
những năm 1940, chính phủ cố ý tạo ra những đợt lạm phát và suy thoái để bóp
chết cầu của công nhân. Nhà cấp tiến hiện đại Stephen Marglin thì cho rằng các
doanh nghiệp thường hoan nghênh những cuộc suy thoái. Nếu Marglin đúng thì đang
có rất nhiều người hoạt động theo “ý thức sai lầm” của Marx. Chúng ta hãy xem
xét bài viết của Marglin về cuộc bầu cử tổng thống năm 1980: Ronald Reagan hứa
hẹn tỉ lệ lạm phát thấp hơn mà không có suy thoái. Thật là ngốc nghếch, ông ta
nghĩ rằng các ông chủ không thích suy thoái. Nhưng các ông chủ lại bầu cho
Reagan. Tại sao vậy? Họ biết là ông ta sẽ thất bại và vô tình gây ra suy thoái.
Đúng là ông ta đã thất bại và theo như luận thuyết của Marglin thì các ông chủ
rất vui sướng khi nhìn thấy giá cổ phiếu của họ giảm xuống.36
Các nhà cấp
tiến hiện đại tiến hành nhiều cuộc chiến – chống lại những mô hình của những
nhà kinh tế đồng nghiệp của họ, chống lại chính phủ, chống lại các nhà tư bản,
và đôi khi chống lại chính ký ức của thày họ, Karl Marx. Cho đến nay người ta
khó lòng mà đếm được những lần chiến thắng của họ.
4.Marx đóng góp
gì cho chính trị học hiện đại? Tiếng than khóc to nhất trong bất kỳ một
cuộc tranh luận nào về chủ nghĩa cộng sản ngày nay đều xuất phát từ những người
Marxist, những người chỉ trích gắt gao nền chính trị Liên Xô cũ và những nước
đồng minh của nó. Họ hét to lên rằng đây không phải là chủ nghĩa cộng sản của
Marx. Tất nhiên là họ đúng. Ngay từ đầu, Marx chỉ giới hạn chủ nghĩa cộng sản ở
những nước đã được công nghiệp hóa (mặc dù trong những năm cuối đời, ông cẩn
thận xem xét một cuộc cách mạng có thể xảy ra ở nước Nga). Stalin có một nhiệm
vụ khó khăn là tăng tốc, đưa nước Nga nông nghiệp tiến vào kỷ nguyên công
nghiệp. Dựa vào điểm (1) và (9) trong bản kế hoạch của tác phẩm Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản, Stalin đã buộc nông dân phải gia nhập các nông trang tập thể và
nhà nước. Vào mùa đông những năm 1932-1933, ông cố tình gây ra nạn đói làm chết
hàng triệu người để bẻ gãy sự kháng cự của họ, đặc biệt là ở Ukraina.37
Trước Stalin,
Lenin đã gặp phải những rắc rối chính trị tương tự khi định hình lại tư duy của
người Nga. Trong thời kỳ ông cầm quyền, nền chuyên chính vô sản là nền chuyên
chính của Đảng – một chế độ độc tài sẽ không nhanh chóng tự tiêu vong được.
Đến cuối thập
niên 1980, Mikhail Gorbachev cố gắng cứu chữa một nền kinh tế bị xơ cứng. Như
những người bảo vệ nó thường nói, nền kinh tế của họ bị quặt què trong suốt 70
năm xấu trời. Vào thời điểm đó Gorbachev dường như đã sẵn sàng vứt bỏ Marx và
chấp nhận một vài cơ chế thị trường tự do, kể cả việc cho thuê dài hạn đất đai
nông trang và các phân xưởng sản xuất nhằm kiếm lợi nhuận và tạo ra những hợp
tác xã tư nhân. Mặc dù vậy, Gorbachev lại không thể duy trì được tình thế khi
những lực lượng thị trường làm bỏng những bày tay cộng sản đã quen nắm chặt nền
kinh tế. Có thể nói rằng chiếc máy fax đóng một vai trò to lớn trong việc kết
thúc Chiến tranh Lạnh giống như một công nghệ quân sự, bằng cách cho phép các
tổ chức dân chủ có thể truyền bá những thông điệp của mình. Tổng thống Nga
Boris Yeltsin đã vật lộn để thúc đẩy nền kinh tế Nga tiến lên, nhưng lại bị cản
trở bởi tham nhũng, thế lực mafia mới nổi lên và dân số già cỗi cảm thấy có quá
ít lợi thế cho họ trong một nền kinh tế mới. Đối với những người hưu trí, chủ
nghĩa cộng sản đảm bảo cho họ một số tiền – một số tiền không đáng kể nhưng ít
nhất là một khẩu phần chắc chắn. Chủ nghĩa tư bản chẳng bảo đảm cho họ cái gì
ngoài sự hỗn loạn. Trái lại, những người Nga trẻ tuổi đã chớp lấy cơ hội xây
dựng nên những doanh nghiệp mới để đi lại tự do và cố gắng bắt tay vào kinh
doanh. Đây là một sự phân hóa xã hội nguy hiểm gần như không thể hàn gắn được.
Một sự phân ly còn sâu sắc hơn cả sự bất hòa giữa “nhà tư bản và công nhân” mà
Marx và Lenin đã lợi dụng. Tháng Bảy năm 1998, Yeltsin tham gia nghi lễ an táng
dành cho Nga hoàng Nicholas và gia đình ông ta ở St. Petersburg; những người mà hài cốt của họ
đã bị thiêu đốt và để mặc trong quên lãng hàng thập kỷ. Yeltsin lên án hành
động giết Nga hoàng một cách man rợ của những người Leninist, hy vọng tìm ra
một vấn đề mà những người già và trẻ có thể đồng ý với nhau.
Người Trung Quốc tôn thờ Marx sau cuộc cách mạng năm 1949 của họ. Ngay sau đó
họ trở thành người đa thần giáo bằng cách đặt Mao Trạch Đông lên cùng bàn thờ.
Nhưng đến cuối những năm 1970, dưới thời Đặng Tiểu Bình, người Trung Quốc bắt
đầu nhanh chóng chuyển hướng sang tự do kinh doanh trong nhiều khu vực kinh tế.
Điều này thực sự là sự quở trách Marx và chửi rủa Mao. Đặng, người đã bị Mao
tống vào tù hồi Cách mạng Văn hóa đẫm máu trong những năm 1960, là một người
thực dụng. Ông phát biểu rằng “mèo trắng hay mèo đen không thành vấn đề miễn là
bắt được chuột”.38 Ông cho phép các chủ hiệu được giữ lại lợi nhuận và nông dân
được tự do bán lương thực của mình. Họ gọi xu hướng này là gì? Họ đã chuyển chữ
thuật ngữ “thị trường tự do”. Hàng triệu người Trung Quốc tưởng rằng “thị
trường tự do” là một thuật ngữ gốc Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khoảng mười năm
tự do hóa, những lực lượng bảo thủ khẳng định lại vị thế của họ vào năm 1987
(mặc dù họ không chấm dứt việc kinh doanh của nhà hàng Gà Rán Kentucky – KFC nằm ở phía đối diện của lăng
Mao Trạch Đông). Mặc dù vậy, sự thụt lùi chỉ là tạm thời. Sau khi Đặng chết,
thủ tướng mới Chu Dung Cơ và chủ tịch Giang Trạch Dân cam kết thúc đẩy hơn nữa
kinh tế tư nhân và cắt giảm phạm vi hoạt động của các công ty đại chúng. Năm
1998, Giang thậm chí còn nắm cả quân đội. Những ngón tay của ông ta có thể sờ
đến tất cả các khu vực kinh doanh từ khách sạn, các nhà máy sản xuất tủ lạnh,
đến các quầy bar karaoke. Các doanh nhân Trung Quốc đã len lỏi vào nền kinh tế
thế giới. Hầu hết đồ chơi tại các cửa hàng đồ chơi Toys “R” Us ở địa phương nơi
bạn ở đều được chế tạo tại Trung Quốc. Trong khi đó, ngày càng nhiều người
Trung Quốc gội đầu bằng dầu gội đầu Procter & Gamble hơn bất kỳ nhãn hiệu
nào! Điều kỳ quặc trong sự thành công của Chu
và Giang là trong khi thúc đẩy hơn nữa tự do kinh doanh, họ vẫn duy trì quyền
lực của Đảng Cộng sản để dọa dẫm. Mặc dù vẫn còn một số hồ nghi nhưng đó không
còn là Đảng Cộng sản của cha ông họ nữa.
Liên Xô và
Trung Quốc là những quốc gia cuối cùng trong số các quốc gia cộng sản lớn nhất
tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Marx. Khi Bức Màn Sắt tan chảy dọc theo
đường biên giới của Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary và Rumani, ngày càng
có nhiều công nhân giành được tự do để đoàn kết; chống lại những tư tưởng của
Marx.
Cho tới nay,
không còn một nước nào tuân theo chủ nghĩa Marx đúng như trong mường tượng của
những người ngưỡng mộ ông ta nữa. Ngay cả khu định cư của Israel dường
như cũng đang chuyển đổi từ những dự án xã hội chủ nghĩa thành những dự án tư
bản chủ nghĩa. Có lẽ sẽ không còn nước nào thực hiện giấc mơ của Marx nữa. Giấc
mơ hứa hẹn hơn cả thế giới thực tại, một thế giới đầy rẫy sự khan hiếm, sự ích
kỷ và xấu xa. Đó là một giấc mơ giống kiểu một thiên đàng đã bị mất, phù hợp
hơn đối với những thiên thần hơn là với những người vô sản. Thật không may,
lòng mong mỏi khát khao trở nên mạnh mẽ tới mức những người tốt đã bị mê hoặc.
Họ ủng hộ những chế độ đồi bại chuyên giảng đạo, nhưng lại không thực hiện giáo
lý của chủ nghĩa Marx. George Bernard Shaw đã bắt tay Stalin và quan sát sự đàn
áp của chế độ Xô viết trong một thời gian dài trước khi ông tỉnh ngộ.
Đối với nhân
loại ngày nay, Marx nhắc nhở chúng ta rằng thay đổi về kinh tế có thể gây ra
đau đớn, rằng quyền lực có thể chuyển thành sự áp bức và bộ phận dân cư tầng
lớp dưới phải được bảo vệ khỏi sự bóc lột. Những chế độ cộng sản đã cho thấy
những cảnh báo trên là hoàn toàn chính xác. Những người ngưỡng mộ Marx tán
dương Marx thời trẻ và Marx ít khoa học hơn. Không phải là một nhà kinh tế lý
thuyết có sức thuyết phục hay một nhà lãnh đạo chính trị uy tín, Marx trở thành
một tiếng nói hiện thời cho sự công bằng xã hội mang tính nhân văn. Ông trở nên
giống như Tom Joad trong tác phẩm Chùm nho uất hận của John Steinbeck:
Bao giờ con
cũng có mặt trong bóng tối, khắp nơi. Khắp nơi nào mẹ nhìn. Khắp nơi nào mà có
một cuộc đánh lộn để con người đói khát có thể giành giật nhau miếng ăn, nơi đó
sẽ có con. Khắp nơi nào có một tên cảnh sát đang đánh đập một con người, sẽ có
con.… nơi nào có tiếng kêu thét của những người đang nổi giận vì họ đói khát,
con sẽ ở đấy … Và khi nào những người cùng cảnh với chúng ta đang ngồi trước
bàn ăn có đủ những thứ họ trồng trọt và gặt hái khi nào họ ăn ở trong những
ngôi nhà mà họ xây dựng ở đây, sẽ có con. Mẹ hiểu không, mẹ? 39
Đặt sự lạm dụng
và tàn bạo dưới cái tên của Marx, đây có lẽ là chỗ tốt nhất dành cho ông ta.
————————————–
Ghi chú
1. David
McLellan, Karl Marx: His Life and Thought (New York: Harper & Row, 1973),
tr.4. Xem Karl Marx, “On the Jewish Question”, trong The Marx-Engels Reader
(New York: W. W. Norton, 1978) do Robert C. Tucker biên soạn, tr.26-52;
Gertrude Himmelfarb, “The Real Marx”, trong Commentary (tháng Tư năm 1985),
tr.37-43 và “Letters” (tháng Tám năm 1985).
2. McLellan,
tr.6-7.
3. Sđd, tr.33.
4. Robert
Payne, Karl Marx (New York: Simon and Schuster, 1968), tr.77.
5. McLellan,
tr.53.
6. Saul K.
Padover, Karl Marx: An Intimate Biography (New York: McGraw-Hill, 1978), tr.
179.
7. McLellan,
tr.99.
8. Karl Marx và
Friedrich Engels, Collected Works (New York: International Publishers, 1982),
tập 38, tr.115.
9. Karl Marx,
“Introduction to A Critique of Hegel’s Philosophy of Right”, trong K. Marx, The
Early Texts, D. McLellan biên soạn (Oxford: Oxford University Press, 1971),
tr.116.
10. Karl Marx,
The German Ideology, do Tucker biên soạn, tr.155-56.
11. Karl Marx,
A Contribution to the Critique of Political Economy, N. I. Stone dịch (Chicago:
Charles Kerr, 1904), Lời tựa.
12. Karl Marx,
The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte, do Tucker biên soạn, tr.595.
13. Karl Marx
và Friedrich Engels, The Communist Manifesto, Samuel Beer biên soạn. (Arlington
Heights: Harlan Davidson, 1955), tr.9.
14. Marx, A
Contribution to the Critique of Political Economy, lời tựa.
15. Karl Marx,
Capital, tập 1 (Chicago: Charles Kerr, 1906), tr.13.
16. Marx và
Engels, The Communist Manifesto, tr.13-14.
17. Sđd.
18. McLellan,
tr.98.
19. Sandover,
tr.291-293.
20. Payne,
tr.295.
21. McLellan,
tr.264, 357.
22. Sđd,
tr.284.
23. Karl Marx,
Capital, tập 1, tr.649, 652.
24. Sđd,
tr.687.
25. Sđd,
tr.836.
26. Sđd,
tr.837.
27. Marx và
Engels, The Communist Manifesto, tr.46.
28. Marx,
Capital, tập 1, tr.21.
29. Marx và
Engels, The Communist Manifesto, tr.31-32.
30. Marx,
Capital, tập 1, tr.637.
31. Payne,
tr.143.
32. Marx và
Engels, The Communist Manifesto, tr.22; Thomas Sowell, Marxism: Philosophy and
Economics (New York: William Morrow, 1985), tr.138.
33. Vấn đề
nghèo khổ tương đối là rất khó đánh giá. Thứ nhất, bởi vì có một khoảng cách về
thu nhập giữa người giàu và người nghèo, thậm chí ngay cả khi người nghèo kiếm
được thu nhập với tốc độ nhanh hơn, thì chênh lệch tuyệt đối về đồng đô la vẫn
có thể tăng lên. Hãy so sánh một người là A khởi đầu với 10.000 đô la và kiếm
thêm được 10% mỗi năm với người B khởi nghiệp với 100.000 đô la và chỉ kiếm
được thêm 5% mỗi năm. Trong khoảng bảy năm, A kiếm được khoảng 20.000 đô la,
trong B kiếm được hơn 140.000 đô la. Thứ hai, ở nước Mỹ, trải qua mỗi thế hệ
lại có sự dao động lên xuống đáng kể. Một nghiên cứu quan trọng cho thấy rằng
khoảng một phần ba số con cái có cha mẹ là những người giàu có trong nước nhận
được thu nhập dưới mức trung bình của quốc gia. Hơn thế nữa, khoảng một phần ba
số con cái có cha mẹ là những người nghèo nhất lại vươn lên và vượt mức trung
bình của quốc gia. Xem Christopher Jencks và cộng sự, Inequality: A
Reassessment of the Effect of Family and Schooling in America (New
York: Basic Books, 1972), tr.209-216. Để tham khảo cách tiếp cận quốc tế đối
với sự dao động, hãy xem W. W. Rostow, Why the Poor Get Richer and the Rich
Slow Down (Austin: University of Texas Press, 1980). Chúng ta có thể tự tin mà
nói rằng trong phần lớn thế kỷ XX, tất cả mọi tầng lớp xã hội ở Mỹ đều đạt được
sự tiến bộ tuyệt đối. Mặc dù vậy, trong thời kỳ lạm phát đình đốn từ năm 1974
đến năm 1982, tất cả các tầng lớp xã hội đều bị suy giảm thu nhập. Người nghèo
đặc biệt phải chịu đựng cả những gánh nặng kinh tế lẫn tâm lý khi số các hộ gia
đình mà phụ nữ làm chủ hộ tăng vọt lên khoảng 40%. Trong thời kỳ giữa và cuối
thập kỷ 1980, nước Mỹ lại đạt được và vượt mức bình ổn của năm 1973.
34. John Rawls,
A Theory of Justice (Cambridge: Harvard University Press, 1971).
35. John
Maynard Keynes, The Collected Writings of John Maynard Keynes, tập 28 (London
and New York: Macmillan/St. Martin’s Press, 1973), tr.38, 42.
36. Xem Stephen
A. Marglin, “Radical Macroeconomics” (Cambridge: Harvard Institute of Economics
Research, 1982), Discussion Paper số 902, tr.1-26.
37. Xem Robert
Conquest, The Harvest of Sorrow (New York: Oxford University Press, 1987).
38. David S. G.
Goodman, Deng Xiaoping and the Chinese Revolution: A Political Biography
(London: Routledge, 1994), tr.3.
39. John
Steinbeck, The Grapes of Wrath (New York: Penguin Books, 1986), tr.537.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét