Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

17 thg 9, 2011

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần IV


Đánh giá Marx
Làm thế nào mà chúng ta có thể phê phán một cách toàn diện những phân tích thiên tài của Marx? Nhiệm vụ này thật là đáng sợ. Trong suốt thế kỷ qua, giới trí thức đã viết hàng triệu trang giấy để ngợi ca, lăng mạ và ba hoa, bốc phét về Marx. Một dàn ý đơn giản để đánh giá Marx là như thế này: (1) Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx bẻ cong khái niệm lao động thặng dư như thế nào? (2) Những điều tiên đoán về sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp và sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản có chính xác không? (3) Ông đóng góp cho kinh tế học hiện đại những gì? (4) Ông đóng góp gì cho chính trị học hiện đại?
1.Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx bẻ cong khái niệm lao động thặng dư như thế nào:Trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victor Hugo, Jean Valjean thường xuyên phải đối diện với kẻ báo oán: Thanh tra Javert. Và cuộc đời cứ luôn kéo Javert về đối diện với Valjean. Tính biện chứng văn chương tạo ra một cuộc tranh đấu kịch tính cho mỗi bên. Nếu không có nhân vật kia, cuộc đời sẽ trở nên quá đơn giản đối với họ.
Vấn đề trong chủ nghĩa lịch sử của Marx là ở chỗ nhà biện chứng bậc thầy này lại bỏ qua sự biện chứng kịch tính nhất: giữa những nguyên nhân ý thức và những nguyên nhân vật chất. Về cơ bản, Marx miêu tả những yếu tố vật chất là nguyên nhân cho mọi sự thay đổi. Chúng thiết lập và thay đổi ý thức hay thượng tầng kiến trúc của xã hội một cách định kỳ. Mặc dù thừa nhận mối quan hệ này nhưng Marx lại luôn coi thường những tác động của ý thức. Và sai lầm này lan sang hủy hoại lý thuyết kinh tế của ông.
Khái niệm về lao động thặng dư là cơ sở cho toàn bộ học thuyết Marx về chủ nghĩa tư bản. Hãy nhớ lại phép tam đoạn luận đơn giản. Tại sao lao động phải bị bóc lột? Bởi vì Marx nắm chặt lấy “học thuyết giá trị lao động” để giải thích việc nhà tư bản thu được lợi nhuận. Theo Marx, “không một nguyên tử” giá trị nào bắt nguồn từ nhà tư bản.30 Không chút đắn đo, Marx cho rằng cô thợ may Jasmine hay người thợ rèn đang đập thình thịch vào cái đe mới tạo ra giá trị.
Marx đã quên mất điều gì? Ông không để ý tới khả năng sáng tạo và tài kinh doanh. Để tạo ra của cải đòi hỏi phải có những thứ hơn cả nguyên liệu hữu hình. Việc chế tạo ra các đầu máy video (VCR) không cần những loại vật liệu thô mới hay những phương thức bóc lột lao động tàn nhẫn hơn. Ngành công nghiệp video đòi hỏi hai điều: phát minh và bản lĩnh kinh doanh – sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong đầu tư. Tại sao người Nga sống dưới chế độ cộng sản lại phải xin những chiếc quần bò vải bông chéo do người Mỹ làm ra? Không phải vì Liên Xô thiếu bông hay thiếu công nhân để sản xuất quần áo chất lượng cao, mà bởi vì họ thiếu năng lực sáng tạo, động cơ làm việc và kỷ luật. Chính những cái vô hình này phân biệt những công ty và quốc gia thành công với số còn lại.
Chủ nghĩa duy vật của Marx không may lại làm ông phớt lờ tất cả các loại vốn, như vốn nhân lực tức là tri thức, tài khéo léo hay kỹ năng quản lý đều rất quan trọng đối với lợi nhuận. Làm thế nào mà học thuyết giá trị lao động có thể giải thích được những giây phút lóe sáng hay sự sáng suốt như ví dụ dưới đây?
Vài năm trước, khi một người bước qua một khu rừng, một bông gai nhỏ bắt chặt lên chiếc tất len của anh ta. Tài khoản ngân hàng của anh ta giờ đây đầy ắp tiền. Anh ta phát minh ra khóa dán Velcro. Liệu tất cả lợi nhuận của anh ta có được là do đánh cắp của công nhân?
Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy Alfred Marshall tấn công Marx vì đã bỏ qua giá trị của việc chấp nhận rủi ro và “chờ đợi” đối với xã hội. Bằng cách đầu tư, nhà tư bản từ bỏ sự thỏa mãn tức thời của việc mua hàng hóa. Những khoản kiếm được nhờ đầu tư trả cho sự chờ đợi và trì hoãn thỏa mãn của anh ta. Nếu mọi người đều tiêu thụ tất cả mọi thứ bây giờ, xã hội sẽ chẳng tạo ra được cái gì mới. Do vậy, lợi nhuận đóng một vai trò cốt yếu và hoàn toàn hợp lý. (Thật tình cờ, cuộc “cách mạng” của những người theo phái cận biên mà Marshall là người đi đầu, chứng minh rằng giá trị bắt nguồn từ cầu, cũng như từ sản xuất hay cung. Vào thời điểm tập II của Tư Bản xuất bản sau khi tác giả đã chết, những người theo phái cận biên đã tấn công dữ dội cách tiếp cận trọng cung của Marx và những nhà kinh điển)
Bằng việc thừa nhận học thuyết giá trị lao động, Marx coi thường quá nhiều yếu tố động và yếu tố ý thức. Ricardo không mắc phải sai lầm này, bởi vì ông nhìn nhận học thuyết giá trị lao động chỉ là một công cụ tính toán tiệm cận thôi, chứ không phải là nguyên nhân quyết định giá trị. Khi Marx cố chứng minh lý thuyết bằng toán học, ông rơi vào một đống bông gai. Thật ngạc nhiên là ông lại không khám phá ra khóa dán Velcro hồi thế kỷ XIX.
2.Những điều tiên đoán về sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp và sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản có chính xác không? Marx không có ý định đưa ra lời tiên đoán. Ông nhằm vào sự tiên đoán khoa học, dự báo tiến trình lịch sử dựa trên những khuynh hướng có thể nhận biết được. Nhưng khi lịch sử đi chệch khỏi những dự báo của ông, thì những hậu duệ của ông sau khi ông chết đã tạo ra một thứ giả-tôn giáo từ những công trình của ông. Thật vậy, những “quy luật” của ông tuân theo lịch sử. Sau khi mô hình hóa những quy luật, những học trò của ông có thể công bố tính chính xác của những điều tiên đoán. Mặc dù có xuất phát điểm là khoa học vô thần, chủ nghĩa Marx trong thế kỷ XX lại giống như một cửa sổ kính màu cho ánh sáng Mặt trời đi qua nó một cách chọn lọc và hiếm khi thừa nhận sai lầm. Một khi những quy luật trở thành kinh sách tôn giáo, thì những nỗ lực nhằm kiểm chứng tính khoa học của chủ nghĩa Marx đều thất bại.
Marx sống đủ lâu để trông thấy một vài người ủng hộ mình tung hô và tán tụng những quy luật của ông, dựng lên những bục giảng đạo và ban phát bánh thánh. Nhà chủ trương học thuyết vô chính phủ Proudhon đã cảnh báo Marx đừng có tạo ra một cuốn giáo lý vấn đáp:
Vì sự nghiệp của Chúa, sau khi chúng ta bãi bỏ tất cả chủ nghĩa giáo điều suy diễn, chúng ta hãy chấm dứt tiêm nhiễm một loại giáo điều khác vào đầu dân chúng vì bất kỳ lý do gì đi nữa… Chúng ta hãy luận chiến với nhau một cách lịch sự và chân thành … Vì chúng là người đi đầu của phong trào, chúng ta hãy đừng biến mình trở thành lãnh tụ của sự tin tưởng mù quáng mới, chúng ta đừng thể hiện như là tông đồ của một tôn giáo mới ngay cả khi tôn giáo này là tôn giáo của logic, tôn giáo của lý trí.31
Ngay cả khi chúng ta không thể bác bỏ được những dự đoán của Marx, chúng ta vẫn có thể quan sát một số phát triển trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa kể từ thời đại của ông. Thứ nhất, mức sống của công nhân đã được nâng lên rất đáng kể trong suốt 100 năm qua. Tỉ lệ người sở hữu nhà và ôtô tăng lên cực kỳ nhanh. Theo định nghĩa về sự nghèo đói hiện nay, giai cấp tư sản mới nổi ở thời của Marx đã bị nghèo đi và bị “bần cùng hóa” theo thuật ngữ của Marx. Và nếu chiểu theo định nghĩa ở thời của Marx, thì giai cấp công nhân ngày nay là giàu có một cách phô trương. Không ai có thể bác bỏ sự tăng lên trong mức sống “tuyệt đối” của người công nhân.
Tuy tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cảnh báo trước những người công nhân rằng “người công nhân hiện đại… đã không vươn lên được cùng sự tiến bộ của công nghiệp mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo khổ”. Nhưng Marx sớm nhận ra rằng ví tiền của công nhân đã trở nên dày hơn. Ông thậm chí cũng phải thừa nhận rằng mười năm sau khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời, tiền lương của công nhân đã tăng lên 40%.32
Vì lý do này nên Marx đã sửa đổi những định nghĩa và cảnh báo rằng công nhân sẽ trở nên ngày càng nghèo hơn so với nhà tư bản. Cảnh khải huyền của người lao động cứ mờ nhạt dần đi: Người giàu sẽ giàu hơn và người nghèo cũng trở nên giàu hơn. Nhưng người giàu sẽ giàu nhanh hơn.33
Marx ép định nghĩa mới vào cuốn Tư Bản bằng cách tuyên bố rằng “sự tồn tại” là một thuật ngữ tương đối, tùy thuộc vào lối sống đương thời. Có lẽ là trong thế kỷ XX, sự sinh tồn tối thiểu cần có máy truyền hình màu vì những người “nô lệ ăn lương” trung bình trong lĩnh vực chế tạo đều có thể mua được. Bằng cách lùi vào lập luận mang tính chất tương đối như vậy, Marx từ bỏ sự giận dữ và cảm giác tuyệt vọng về cảnh ngộ của người công nhân. Chừng nào mà người nghèo vẫn trở nên giàu có hơn, thì viễn cảnh đó thậm chí còn vượt qua được phép kiểm định công bằng xã hội của nhà triết học John Rawls (cho phép người giàu kiếm được chỉ khi nào người nghèo cũng có lợi).34
Cho nên những người Marxist hiện đại nhấn mạnh đến tâm lý khổ sở và sự lạc lõng. Họ có lẽ đúng; những người công nhân vẫn thường cảm thấy buồn chán và phẫn nộ. Nhưng Marx không nói với chúng ta về cách thức mà chủ nghĩa xã hội làm cho việc nhặt rác trở nên thú vị. Nếu những người lao động hạnh phúc làm việc tốt hơn thì ít nhất dưới chủ nghĩa tư bản, những người chủ cũng có động cơ thuyết phục để làm hài lòng nhân viên của mình.
Hơn nữa, làm thế nào để chúng ta có thể định nghĩa được hạnh phúc của những người lao động? Nếu tiền lương chỉ là tương đối, tại sao đó không phải là hạnh phúc? Liệu chúng ta có phải đưa ra câu hỏi tuyệt đối: Những người công nhân hiện tại có hạnh phúc hơn những người công nhân 100 năm trước không? Hay chúng ta phải đặt ra câu hỏi tương đối: Mức độ gia tăng hạnh phúc của họ có nhanh hơn mức gia tăng hạnh phúc của các nhà tư bản không? Hãy xem xét điều này: Người giàu trở nên hạnh phúc hơn, và người nghèo cũng trở nên hạnh phúc hơn. Nhưng người giàu trở nên hạnh phúc hơn nhanh hơn. Một khi chúng ta bắt đầu diễn giải sự hạnh phúc sao cho chúng ta có thể kiểm định được “tính khoa học” của chủ nghĩa Marx, thì đó là một ngày đáng buồn cho những người Marxist cũng như những người không phải là Marxist.
Marx cũng tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống tự tạo ra những “người đào mồ chôn” chính mình. Nhưng chủ nghĩa tư bản lại có vẻ chưa chết. Nạn thất nghiệp có cao hơn một chút so với hồi đầu những năm 1900. Nhưng nếu chúng ta xét đến tỷ lệ phần trăm dân số lao động và đặc biệt sự gia nhập của phụ nữ vào lực lượng lao động thì tỷ lệ có việc làm lại cao hơn.
Hơn thế nữa, chủ nghĩa tư bản thường sản sinh ra tầng lớp trung lưu gián tiếp sở hữu một số phương tiện sản xuất thông qua thị trường chứng khoán. Trong những năm cuối của thập niên 1980, hàng triệu người Anh thuộc tầng lớp trung lưu dưới mua cổ phiếu của những công ty được “cổ phần hóa” như British Telecom, British Steel và British Airways. Hầu hết các quỹ hưu trí nghiệp đoàn ở Mỹ đều đầu tư nhiều vào cổ phiếu các tập đoàn.
Một số người bảo vệ Marx chỉ ra sự gia tăng vai trò của chính phủ trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa như là vị cứu tinh bất ngờ của chủ nghĩa tư bản. Các khoản chi tiêu phúc lợi xã hội bảo vệ các nhà tư bản khỏi suy thoái sâu hơn và cách mạng. Những người bảo vệ Marx có lẽ đúng. Nhưng hãy nhớ rằng, Marx tiên đoán rằng hệ thống chính trị và thượng tầng kiến trúc sẽ giữ bất động, chống lại sự thay đổi. Sự cứng nhắc sẽ phá hủy nó. Nếu xét về quá khứ, thượng tầng kiến trúc đã nhượng bộ để cứu chủ nghĩa tư bản, thì Marx tiếp tục sai thêm một lần nữa.
Cuối cùng, những người Marxist giải thích sự thành công ngạc nhiên của chủ nghĩa tư bản bằng cách viện dẫn những quốc gia bên ngoài. Họ nói rằng các nhà tư bản bắt đầu bóc lột những những công nhân nước ngoài ở những nước kém phát triển hơn và những người công nhân bị bóc lột ở nước ngoài này đã chống đỡ cho nền kinh tế trong nước. Một lần nữa, ngay cả khi lập luận này có giá trị, thì nó cũng đưa chúng ta chệch xa khỏi sự phân tích của Marx về sự hủy hoại biện chứng nằm trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Nói tóm lại, Marx đã nghĩ ra một hệ thống khoa học trong tác phẩm Tư Bản. Ông tự tin tiên đoán quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Với lối diễn giải phóng khoáng và láu cá, có lẽ thỉnh thoảng ông mới đúng. Nhưng có một điều chắc chắn là Marx rất khinh thường những người mộ đạo đầy cảm tính. Ông sẽ giận dữ bác bỏ những nỗ lực giành chiến thắng trong lập luận bằng lòng khoan dung của trí tuệ.
(còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters