Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

17 thg 9, 2011

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần III


Với tình cảnh gia đình như vậy, không ngạc nhiên gì khi biết rằng trong suốt những năm 1850 và 1851, Marx ở trong Bảo tàng Anh quốc nhiều hơn là ở nhà. Ông đọc hầu hết tất cả những gì liên quan đến kinh tế học. Ông bỏ ra hàng tháng trời để ghi chép những đoạn trích dài của khoảng 80 tác giả. Engels thúc giục ông làm nhanh hơn nhưng Marx chậm rãi một cách khó hiểu và quá câu nệ các tiểu tiết. Marx cũng gặp khó khăn khi tìm kiếm một nhà xuất bản chấp nhận xuất bản cuốn Tư Bản theo nguyên mẫu của ông. Engels quở trách nhà cộng sản ương ngạnh: “Thể hiện một chút đầu óc kinh doanh xem nào.”22
Mãi đến năm 1867, Marx mới hoàn thành việc nghiên cứu, viết lách, biên tập của mình và bình phục sau vài lần ốm đau. Tập I cuối cùng cũng ra đời. Ba tập tiếp theo được xuất bản sau khi tác giả qua đời.
Để miêu tả cuốn Tư Bản, ta có thể chọn một trang bất kỳ trong cuốn Từ điển Đồng nghĩa và Dị nghĩa của Roget và đọc thật to bất kỳ tính từ nào. Cuốn sách đó có tất cả 2500 trang bao gồm toàn bộ trích dẫn từ hơn 1500 tác phẩm khác. Một vài trang thực sự là những kiệt tác văn chương. Một số trang toát ra logic sáng sủa. Và một số trang lại mang nặng tính chuyên môn, tầm thường và chán ngắt làm người ta nhớ đến lời phê phán kịch liệt của Truman Capote dành cho nhà văn Jack Kerouac: “Đây không phải là viết mà chỉ là đánh máy thôi.”
Chúng ta hãy nghiên cứu tác phẩm Tư Bản theo ba bước. Thứ nhất, chúng ta sẽ khám phá điều cốt lõi của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng của Marx về sự bóc lột lao động. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét những quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản, những quy luật tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Thứ ba, chúng ta sẽ xem xét những thiệt hại tâm lý của chủ nghĩa tư bản.
Marx không chọn con đường dễ đi. Ông không chỉ thẳng vào những doanh nghiệp lũng đoạn thị trường mà tuyên bố rằng kỷ nguyên của những doanh nhân mạo hiểm và sự cạnh tranh hoàn hảo kiểu Smith đã hết thời rồi. Hãy nhớ rằng ông là một người theo phái Hegel trẻ; ông muốn cho thế giới thấy rằng ngay cả những mô thức lý tưởng của chủ nghĩa tư bản nhất định phải tự sụp đổ. Ông bắt đầu với những công cụ kinh điển.
Giống như Smith và đặc biệt là Ricardo, Marx “chứng minh” rằng giá trị của một sản phẩm được quyết định bởi lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó. Máy móc chỉ là lao động quá khứ được tích lũy lại dưới dạng sắt thép. Một bộ dàn nghe stereo tiêu tốn hết mười giờ lao động thì nó có giá trị gấp đôi so với giá trị của một cái khác chỉ mất có năm giờ lao động.
Nếu điều đó là đúng, thì không thể có lợi nhuận trừ khi công nhân bị bóc lột lao động. Chúng ta có tam đoạn luận như dưới đây:
Giá trị của một sản phẩm (giá cả của nó) được quyết định bởi lượng lao động.
Những người công nhân nhận được đầy đủ giá trị của cái mà họ đóng góp vào để sản xuất ra sản phẩm đó.
Do đó, giá trị của một sản phẩm bằng với lượng giá trị mà người công nhân nhận được.
Nhưng giá bán của sản phẩm lại không chỉ chia cho công nhân. Người chủ giữ một phần là lợi nhuận. Hãy quên đi bàn tay vô hình. Bàn tay hữu hình và thô bạo của nhà tư bản mới thực sự hoạt động. Lợi nhuận từ đâu mà ra? Tiền đề thứ 2 chắc chắn là sai. Công nhân không thể nhận được đầy đủ giá trị mà họ đóng góp vào sản phẩm. Họ phải bị bóc lột. (Những người phê phán Marx tất nhiên lập luận rằng tiền đề thứ 1 không đúng)
Nhà tư bản lừa công nhân như thế nào? Thay vì trả cho họ một khoản bằng với giá trị được cộng thêm vào việc kinh doanh của nhà tư bản, nhà tư bản chỉ trả sao cho họtồn tại, tiền lương chỉ đủ để họ sống và làm việc. Nhà tư bản mua sức lao động y như một thứ hàng hóa. Sau đó anh ta bắt nó phải làm việc X giờ mỗi ngày.
Chúng ta hãy sử dụng những thuật ngữ của Marx. Marx miêu tả việc nhà tư bản cung cấp các công xưởng và thiết bị được gọi là tư bản bất biến. Họ cũng trả công cho lao động. Công này được gọi là tư bản khả biến. Khi tiến hành sản xuất, nhà tư bản chắc chắn phải đảm bảo rằng giá trị cuối cùng của sản phẩm phải cao hơn tổng tư bản bất biến và khả biến. Giá trị tăng thêm (lợi nhuận) có được khi họ trả cho công nhân ít hơn giá trị mà công nhân sản xuất ra. Nói cách khác, giá trị của người công nhân thêm vào giá trị sản phẩm vượt quá tư bản khả biến mà họ được trả. Marx gọi đây là sự ăn cướp giá trị thặng dư của người lao động.
Ví dụ, Jasmine là một thợ may làm việc cho chương trình sân khấu Radio City Music Hall. Khán giả thường không thích những bộ trang phục rách nát. Vì thế công việc may vá của cô làm tăng thêm giá trị của một buổi biểu diễn khoảng 10 đô la. Nhưng cô chỉ được trả 6 đô la thôi. Các ông chủ bóp nặn 4 đô la thặng dư của Jasmine cho mỗi buổi biểu diễn hằng ngày. Tỷ lệ giữa giá trị thặng dư đối với tiền lương (4/6) là tỷ suất giá trị thặng dư.
Tại sao Jasmine lại không đòi 10 đô la cho công sức của mình? Chủ nghĩa tư bản dẫn đến thất nghiệp và một đội quân dự bị sẵn sàng thế chỗ của Jasmine nếu cô đòi lương cao hơn. Cô không sở hữu máy may, trang phục hay sân khấu. Các ông chủ mới là người sở hữu. Bằng cách kiểm soát những phương tiện sản xuất, họ thống trị thị trường lao động.
Các ông chủ đặt ra mức lương 6 đô la cho Jasmine như thế nào? Các ông chủ chỉ cần trả lương cho những người công nhân đủ để họ sống. Jasmine nhận 6 đô la bởi vì 6 đô la sẽ giúp cô sống được. Cô ta nhận được một đồng lương đủ sống. Nếu cô ta kiếm được 1 đô la cho mỗi giờ làm việc thì sáu giờ làm việc sẽ giúp cô đủ sống. Nhưng các ông chủ không để cô làm việc đúng sáu giờ. Họ buộc cô phải làm việc nhiều hơn trong một ngày, vá chữa nhiều bộ trang phục rách hơn. Chẳng hạn họ kéo 6 đô la tiền lương của cô ra hơn mười giờ làm việc. Kết quả là: Cô ta làm việc sáu giờ cho chính mình và thêm bốn giờ cho ông chủ. Khoản thặng dư bốn giờ đi ngay vào túi ông chủ. Họ chẳng cần phải đụng đến một cái đê nào cả.
Tại sao người công nhân chỉ được trả lương đủ sống? Chúng ta đã nói rằng giá trị của một hàng hóa được quyết định bởi lượng lao động kết tinh vào hàng hóa đó. Nguồn cung lao động cũng là một loại hàng hóa. Do vậy, giá cả của lao động là khoản tiền cần thiết để sản xuất và duy trì sự tồn tại của một con người.
Nói chung, các ông chủ không trả đủ cho công nhân để mua cái mà họ sản xuất ra. Những người công nhân vật lộn chỉ để có được một phần thôi. Trong ví dụ của chúng ta, Jasmine không thể mua nổi một chiếc vé 10 đô la cho buổi biểu diễn mặc dù chính cô đóng góp 10 đô la giá trị vào đó. Có lẽ các ông chủ sẽ để cho cô mua một chiếc vé 5 đô la nếu cô hứa chỉ xem các diễn viên từ phần thắt lưng họ trở lên.
Nếu lợi nhuận có được nhờ bóc lột lao động, chúng ta có thể xác định tỷ suất lợi nhuận bằng tỷ lệ phần thặng dư trên tổng tư bản bất biến và khả biến (s/[v + c]). Nhà tư bản có thể tăng lợi nhuận nếu ông ta ép buộc những người làm thuê cho mình làm việc nhiều hơn trong một ngày. Hoặc ông ta có thể tăng được lợi nhuận bằng cách bóc lột thêm lao động của phụ nữ và trẻ em. Trong thời đại mà Marx viết, giờ làm kéo dài ra và ngày càng có nhiều lao động nữ và trẻ em đã gia nhập vào lực lượng lao động công nghiệp.
Đến đây chúng ta hiểu lợi nhuận có được nhờ bóc lột như thế nào. Nhưng tại sao lại không thể duy trì được điều này? Những quy luật nào của chủ nghĩa tư bản rốt cuộc sẽ giải thoát người công nhân khỏi sự tuyệt vọng và buộc các nhà tư bản phải quỳ gối? Marx không chỉ tuyên bố rằng một cuộc cách mạng xã hội sẽ nổ ra. Ông mô tả một cách cẩn thận những mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta sẽ khảo sát năm “quy luật” hoặc “khuynh hướng” dẫn tới sự tự sụp đổ từ bên trong của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chẳng những không hoan nghênh chủ nghĩa tư bản, bàn tay vô hình rút cục lại phá tan nó.
1.Tỷ suất lợi nhuận giảm xuống và sự tích lũy tư bản. Cũng như Adam Smith, Marx nhận thấy nhà tư bản đương đầu với sự cạnh tranh. Nếu một công ty mở rộng quy mô sản xuất của mình, nó có thể sản xuất hiệu quả hơn. Công ty nào có khả năng đổi mới sẽ ép buộc các đối thủ cạnh tranh của nó phải phát triển hơn. Các công ty thuê mướn nhiều công nhân hơn. Nhưng điều đó lại làm tăng tiền lương lên vượt mức đủ sống. Các ông chủ làm gì? Họ sẽ thay thế lao động bằng máy móc. Nếu họ không làm điều đó, lợi nhuận của họ sẽ giảm xuống. Bởi vì trả cao hơn sẽ tạm thời chấm dứt sự bóc lột của họ đối với công nhân. Sự cạnh tranh bắt buộc họ phải thay thế như vậy.
Nhưng ở đây các ông chủ khôn ngoan hơn và họ bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Các khoản thặng dư chỉ có thể bóp nặn được từ con người. Những nhà tư bản bán máy móc có thể đòi trả giá đúng và đủ cho các sản phẩm của họ. (Nếu một thiết bị in tráng phim tốc độ cao tăng doanh thu cho công ty vì nó có thể in tráng nhiều ảnh hơn trong một giờ thì nhà sản xuất thiết bị đó có thể tính một mức giá mới cho công ty làm ảnh) Hãy nhìn lại công thức về tỷ suất lợi nhuận s/[c + v] của Marx. Bằng cách cộng thêm máy móc [c], các nhà tư bản làm giảm lợi nhuận của mình. Mặt khác của tình thế khó xử này là nếu họ chống lại việc đưa thêm máy móc vào sử dụng, không ai sẽ mua những sản phẩm không cạnh tranh của họ:
Ngoài ra, sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho sự tăng thêm không ngừng của số tư bản bỏ vào một xí nghiệp công nghiệp trở thành một sự tất yếu, và cạnh tranh làm cho những quy luật bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài có tính chất cưỡng chế đối với mỗi một nhà tư bản cá biệt. Cạnh tranh buộc nhà tư bản không ngừng mở rộng tư bản để giữ được tư bản, và hắn chỉ có thể mở rộng tư bản của mình bằng cách tích lũy ngày càng nhiều hơn mà thôi…
Hãy tích lũy đi, hãy tích lũy đi! Đó chính là Moses và các nhà tiên tri … Cho nên, hãy để dành đi, hãy để dành đi, nghĩa là hãy biến một phần thật nhiều giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư trở lại thành tư bản! 23
Một kết cục tương tự xảy ra nếu một nhà tư bản nâng cấp một cái máy. Người chủ nào tạo ra được một chiếc máy may tốt hơn có thể đưa ra giá thấp hơn cho sản phẩm của mình. Bởi vì các ông chủ phải ganh đua với nhau nên các đối thủ cạnh tranh phải dành dụm những khoảng thặng dư moi được từ lao động và đầu tư vào máy may mới.
“Lòng tham không đáy” của nhà tư bản buộc họ phải bị hủy diệt. Để tránh thua lỗ, các ông chủ cố gắng bóc lột lao động thậm tệ hơn nữa. Bằng cách nào? Họ sẽ tăng tốc độ làm việc. Và họ sẽ kéo dài ngày lao động hơn nữa. Tất nhiên, những chiến thuật này chỉ kéo dài hơn sự chịu đựng của người lao động một cách nguy hiểm.
2.Sự tập trung cao độ quyền lực kinh tế. Khi các nhà tư bản buộc phải mở rộng và phát triển thì cuộc chiến sẽ diễn ra ngày càng ác liệt. Những công ty lớn nhất, những công ty có giá thành sản xuất rẻ hơn sẽ chiến thắng. Cuộc chiến đẫm máu “bao giờ cũng chấm dứt bằng sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ, tư bản của họ một phần lọt vào tay những kẻ chiến thắng, một phần bị tiêu vong”.24 Những kẻ sống sót sẽ nhanh chóng hạ gục kẻ bại trận.
3.Khủng hoảng và suy thoái sâu sắc. “Những lời nhảm nhí con nít … rác rưởi … vô lý bịp bợm.” Marx dùng những từ này để mô tả lập luận của Say về tính ổn định của chủ nghĩa tư bản. Khi các nhà tư bản sử dụng máy móc thay thế cho lao động, nạn thất nghiệp tăng lên. Ai mua hàng hóa khi các ông chủ mở rộng sản xuất? Không ai cả. Hàng hóa không bán được. Nạn phá sản tăng vọt. Sự hoảng loạn xuất hiện khắp mọi nơi. Các nhà tài phiệt bán tống bán tháo những cổ phần họ nắm giữ. Đầu tư tụt xuống. Các nhà đầu tư nhảy lầu. Dĩ nhiên, chu kỳ sẽ bắt đầu một chu trình mới sau khi giá cả tụt xuống. Những kẻ sống sót sẽ lại thu gom những doanh nghiệp phá sản và thuê mướn lại những người công nhân tuyệt vọng. Các khoản thặng dư và lợi nhuận xuất hiện trở lại. Nhưng chỉ để suy thoái nhanh hơn và sâu hơn nữa ở lần kế tiếp.
4.Đội quân dự bị công nghiệp. Nhờ sử dụng máy móc thay thế lao động và suy thoái, các nhà tư bản càng ngày càng ném nhiều người hơn ra đường. “Đội quân” này không mang tính chiến đấu hơn Đội quân Cứu tế lúc ban đầu. Chừng nào mà đội quân này còn bình tĩnh thì nó vẫn còn là một nguồn lao động giá rẻ. Sự thừa thãi công nhân giúp các nhà tư bản kiểm soát được tình hình lúc ban đầu.
5.Bần cùng hóa giai cấp vô sản. “Con số những tên trùm tư bản tiếm đoạt và nắm độc quyền tất cả những cái lợi của quá trình chuyển hóa đó ngày càng giảm đi không ngừng … thì nạn nghèo khổ, áp bức, nô dịch, thoái hóa, bóc lột càng tăng thêm”25. Ngày làm việc dài hơn và ít kỳ nghỉ hơn chỉ đem lại sự bần cùng hơn cho những người lao động bị chà đạp. Những tác phẩm trước đó của Marx lập luận rằng mức sống tuyệt đối của họ tụt xuống. Nhưng trong cuốn Tư Bản, được viết khi ông vấp phải những bằng chứng cho thấy mức sống tuyệt đối của công nhân tăng hơn trước thì ông rút lại, thừa nhận rằng những người công nhân chỉ có một phần nhỏ hơn của sự thịnh vượng so với trước.
Cuối cùng, sau nạn thất nghiệp, sa sút lợi nhuận, sự tuyệt vọng vô nhân đạo và sự bần cùng, giai cấp vô sản sẽ nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Cái mặt nạ của thượng tầng kiến trúc sẽ bị lột bỏ. Con quái vật xấu xa mà người ta gọi là chủ nghĩa tư bản sẽ lộ rõ. Quần chúng bị áp bức sẽ vùng lên: “Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt lại.”26
Giai cấp vô sản sẽ giành được nhiều thứ hơn là các công xưởng. Họ giành lại được con người thật của họ. Các nhà tư bản không chỉ cướp đoạt túi tiền của người vô sản. Họ còn cướp đi cả trái tim và khối óc. Đối với Marx, lao động đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Con người bị ép buộc phải tạo nên và nâng cao cuộc sống của mình thông qua tự nhiên và các mối quan hệ với người khác. Nhân cách của con người không thể phát triển nếu không làm việc sáng tạo. Dưới chủ nghĩa tư bản, lao động chỉ là một loại hàng hóa mà thôi. Con người bị buộc ép buộc phải chấp nhận những công việc thường lệ và tẻ nhạt. Họ trở thành những công cụ sống. Họ cảm thấy lạc lõng với chính họ, với thế giới và với người khác. Sự lạc lõng trở thành một chủ đề nổi bật của những nhà Marxist và những chỉ trích của những người theo thuyết hiện sinh đối với xã hội hiện đại.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels hối thúc những người vô sản nắm lấy nền kinh tế và giải phóng chính mình:
Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới.
Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại! 27
Gần 20 năm sau sự ra đời của cuốn Tư Bản, những người vô sản mới có thể hậu thuẫn cho những khẩu hiệu súc tích của mình bằng những phân tích sắc sảo.
Nhưng điều gì xảy ra sau cách mạng? Có phải tất cả mọi người đều vui vẻ và hưởng thụ trong xã hội mới hình thành? Có phải tất cả mọi người đều ngồi xung quanh đống lửa trại, tay nắm tay và hát “Cum-Ba-Ya”? Một vài nhà Marxist đương thời có lẽ làm cho người ta nghĩ vậy.
Rõ ràng là Marx coi khinh chủ nghĩa xã hội không tưởng và cười khinh bỉ sự đơn giản quê mùa của nó. Ông ta là một người vô cảm. Ông khinh bỉ niềm khát khao mong mỏi sự phân phối thu nhập “công bằng” hay sự tái phân phối tài sản quy mô lớn. Những người công nhân, ngay cả dưới chủ nghĩa xã hội, cũng không được hưởng “đủ giá trị” lao động của mình. Tuy nhiên, khoản thặng dư sẽ tới tay “nhân dân” thông qua những dịch vụ tập thể.
Vậy chủ nghĩa cộng sản thực sự có nghĩa gì? Chúng ta không biết được. Marx đã cố ý né tránh việc để lại “công thức chế biến” cho những “tiệm ăn tương lai”28. Nếu không có công thức cụ thể, chủ nghĩa Marx với tư cách là một hệ thống cai trị trở thành một món xúc xích của chính trị: một cách thức rẻ tiền để biến hội đồng lãnh đạo trở thành công cụ phục vụ cho một nhóm thiểu số.
Marx cho rằng cuối cùng thì nhà nước sẽ “tiêu vong”. Đồng thời nền chuyên chính của giai cấp vô sản sẽ thống trị. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bao gồm một kế hoạch mười điểm để thực thi “sự xâm phạm một cách chuyên chế vào quyền sở hữu”:
1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
2. Áp dụng thuế lũy tiến cao.
3. Xóa bỏ quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn.
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cầy cấy và cải tạo ruộng đất theo một kế hoạch chung.
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là cho nông nghiệp.
9. Kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm dần dần xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn bằng cách phân bố dân cư một cách đồng đều hơn trong cả nước.
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất, v.v.. 29
Những người Marxist sau này sẽ phải tự suy nghĩ xem làm thế nào để thực hiện được kế hoạch đó. Không quá lạc quan về những phong trào xã hội chủ nghĩa bị vỡ vụn ở châu Âu, Marx đã có lần tuyên bố rằng ông không còn là một nhà Marxist nữa.
Trong Kinh Thánh, Chúa ngăn cho Moses không vào Miền Đất hứa. Nhưng những người Marxist không giống như những người Israel, không có Joshua dẫn đường khi Marx chết vào năm 1883.

Còn tiếp 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters