Với tình cảnh
gia đình như vậy, không ngạc nhiên gì khi biết rằng trong suốt những năm 1850
và 1851, Marx ở trong Bảo tàng Anh quốc nhiều hơn là ở nhà. Ông đọc hầu hết tất
cả những gì liên quan đến kinh tế học. Ông bỏ ra hàng tháng trời để ghi chép
những đoạn trích dài của khoảng 80 tác giả. Engels thúc giục ông làm nhanh hơn
nhưng Marx chậm rãi một cách khó hiểu và quá câu nệ các tiểu tiết. Marx cũng
gặp khó khăn khi tìm kiếm một nhà xuất bản chấp nhận xuất bản cuốn Tư Bản theo
nguyên mẫu của ông. Engels quở trách nhà cộng sản ương ngạnh: “Thể hiện một
chút đầu óc kinh doanh xem nào.”22
Mãi đến năm
1867, Marx mới hoàn thành việc nghiên cứu, viết lách, biên tập của mình và bình
phục sau vài lần ốm đau. Tập I cuối cùng cũng ra đời. Ba tập tiếp theo được
xuất bản sau khi tác giả qua đời.
Để miêu tả cuốn
Tư Bản, ta có thể chọn một trang bất kỳ trong cuốn Từ điển Đồng nghĩa và Dị
nghĩa của Roget và đọc thật to bất kỳ tính từ nào. Cuốn sách đó có tất cả 2500
trang bao gồm toàn bộ trích dẫn từ hơn 1500 tác phẩm khác. Một vài trang thực
sự là những kiệt tác văn chương. Một số trang toát ra logic sáng sủa. Và một số
trang lại mang nặng tính chuyên môn, tầm thường và chán ngắt làm người ta nhớ
đến lời phê phán kịch liệt của Truman Capote dành cho nhà văn Jack Kerouac: “Đây
không phải là viết mà chỉ là đánh máy thôi.”
Chúng ta hãy
nghiên cứu tác phẩm Tư Bản theo ba bước. Thứ nhất, chúng ta sẽ khám
phá điều cốt lõi của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng của Marx về sự bóc lột lao
động. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét những quy luật vận động của chủ nghĩa tư
bản, những quy luật tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Thứ ba, chúng ta sẽ
xem xét những thiệt hại tâm lý của chủ nghĩa tư bản.
Marx không chọn
con đường dễ đi. Ông không chỉ thẳng vào những doanh nghiệp lũng đoạn thị
trường mà tuyên bố rằng kỷ nguyên của những doanh nhân mạo hiểm và sự cạnh
tranh hoàn hảo kiểu Smith đã hết thời rồi. Hãy nhớ rằng ông là một người theo
phái Hegel trẻ; ông muốn cho thế giới thấy rằng ngay cả những mô thức lý tưởng
của chủ nghĩa tư bản nhất định phải tự sụp đổ. Ông bắt đầu với những công cụ
kinh điển.
Giống như Smith
và đặc biệt là Ricardo, Marx “chứng minh” rằng giá trị của một sản phẩm được
quyết định bởi lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó. Máy móc chỉ là lao
động quá khứ được tích lũy lại dưới dạng sắt thép. Một bộ dàn nghe stereo tiêu
tốn hết mười giờ lao động thì nó có giá trị gấp đôi so với giá trị của một cái
khác chỉ mất có năm giờ lao động.
Nếu điều đó là
đúng, thì không thể có lợi nhuận trừ khi công nhân bị bóc lột lao động. Chúng
ta có tam đoạn luận như dưới đây:
Giá trị của một
sản phẩm (giá cả của nó) được quyết định bởi lượng lao động.
Những người
công nhân nhận được đầy đủ giá trị của cái mà họ đóng góp vào để sản xuất ra
sản phẩm đó.
Do đó, giá trị
của một sản phẩm bằng với lượng giá trị mà người công nhân nhận được.
Nhưng giá bán
của sản phẩm lại không chỉ chia cho công nhân. Người chủ giữ một phần là lợi
nhuận. Hãy quên đi bàn tay vô hình. Bàn tay hữu hình và thô bạo của nhà tư bản
mới thực sự hoạt động. Lợi nhuận từ đâu mà ra? Tiền đề thứ 2 chắc chắn là sai.
Công nhân không thể nhận được đầy đủ giá trị mà họ đóng góp vào sản phẩm. Họ
phải bị bóc lột. (Những người phê phán Marx tất nhiên lập luận rằng tiền đề thứ
1 không đúng)
Nhà tư bản lừa
công nhân như thế nào? Thay vì trả cho họ một khoản bằng với giá trị được cộng
thêm vào việc kinh doanh của nhà tư bản, nhà tư bản chỉ trả sao cho họtồn tại,
tiền lương chỉ đủ để họ sống và làm việc. Nhà tư bản mua sức lao động y như một
thứ hàng hóa. Sau đó anh ta bắt nó phải làm việc X giờ mỗi ngày.
Chúng ta hãy sử
dụng những thuật ngữ của Marx. Marx miêu tả việc nhà tư bản cung cấp các công
xưởng và thiết bị được gọi là tư bản bất biến. Họ cũng trả công cho lao
động. Công này được gọi là tư bản khả biến. Khi tiến hành sản xuất, nhà tư
bản chắc chắn phải đảm bảo rằng giá trị cuối cùng của sản phẩm phải cao hơn
tổng tư bản bất biến và khả biến. Giá trị tăng thêm (lợi nhuận)
có được khi họ trả cho công nhân ít hơn giá trị mà công nhân sản xuất ra. Nói
cách khác, giá trị của người công nhân thêm vào giá trị sản phẩm vượt quá tư
bản khả biến mà họ được trả. Marx gọi đây là sự ăn cướp giá trị thặng
dư của người lao động.
Ví dụ, Jasmine
là một thợ may làm việc cho chương trình sân khấu Radio City Music Hall. Khán giả thường không thích
những bộ trang phục rách nát. Vì thế công việc may vá của cô làm tăng thêm giá
trị của một buổi biểu diễn khoảng 10 đô la. Nhưng cô chỉ được trả 6 đô la thôi.
Các ông chủ bóp nặn 4 đô la thặng dư của Jasmine cho mỗi buổi biểu diễn hằng
ngày. Tỷ lệ giữa giá trị thặng dư đối với tiền lương (4/6) là tỷ suất giá
trị thặng dư.
Tại sao Jasmine
lại không đòi 10 đô la cho công sức của mình? Chủ nghĩa tư bản dẫn đến thất
nghiệp và một đội quân dự bị sẵn sàng thế chỗ của Jasmine nếu cô đòi
lương cao hơn. Cô không sở hữu máy may, trang phục hay sân khấu. Các ông chủ
mới là người sở hữu. Bằng cách kiểm soát những phương tiện sản xuất, họ thống
trị thị trường lao động.
Các ông chủ đặt
ra mức lương 6 đô la cho Jasmine như thế nào? Các ông chủ chỉ cần trả lương cho
những người công nhân đủ để họ sống. Jasmine nhận 6 đô la bởi vì 6 đô la sẽ
giúp cô sống được. Cô ta nhận được một đồng lương đủ sống. Nếu cô ta kiếm
được 1 đô la cho mỗi giờ làm việc thì sáu giờ làm việc sẽ giúp cô đủ sống.
Nhưng các ông chủ không để cô làm việc đúng sáu giờ. Họ buộc cô phải làm việc
nhiều hơn trong một ngày, vá chữa nhiều bộ trang phục rách hơn. Chẳng hạn họ
kéo 6 đô la tiền lương của cô ra hơn mười giờ làm việc. Kết quả là: Cô ta làm
việc sáu giờ cho chính mình và thêm bốn giờ cho ông chủ. Khoản thặng dư bốn giờ
đi ngay vào túi ông chủ. Họ chẳng cần phải đụng đến một cái đê nào cả.
Tại sao người
công nhân chỉ được trả lương đủ sống? Chúng ta đã nói rằng giá trị của một hàng
hóa được quyết định bởi lượng lao động kết tinh vào hàng hóa đó. Nguồn cung lao
động cũng là một loại hàng hóa. Do vậy, giá cả của lao động là khoản tiền cần
thiết để sản xuất và duy trì sự tồn tại của một con người.
Nói chung, các
ông chủ không trả đủ cho công nhân để mua cái mà họ sản xuất ra. Những người
công nhân vật lộn chỉ để có được một phần thôi. Trong ví dụ của chúng ta,
Jasmine không thể mua nổi một chiếc vé 10 đô la cho buổi biểu diễn mặc dù chính
cô đóng góp 10 đô la giá trị vào đó. Có lẽ các ông chủ sẽ để cho cô mua một
chiếc vé 5 đô la nếu cô hứa chỉ xem các diễn viên từ phần thắt lưng họ trở lên.
Nếu lợi nhuận
có được nhờ bóc lột lao động, chúng ta có thể xác định tỷ suất lợi nhuận bằng
tỷ lệ phần thặng dư trên tổng tư bản bất biến và khả biến (s/[v + c]). Nhà
tư bản có thể tăng lợi nhuận nếu ông ta ép buộc những người làm thuê cho mình
làm việc nhiều hơn trong một ngày. Hoặc ông ta có thể tăng được lợi nhuận bằng
cách bóc lột thêm lao động của phụ nữ và trẻ em. Trong thời đại mà Marx viết,
giờ làm kéo dài ra và ngày càng có nhiều lao động nữ và trẻ em đã gia nhập vào
lực lượng lao động công nghiệp.
Đến đây chúng
ta hiểu lợi nhuận có được nhờ bóc lột như thế nào. Nhưng tại sao lại không thể
duy trì được điều này? Những quy luật nào của chủ nghĩa tư bản rốt cuộc sẽ giải
thoát người công nhân khỏi sự tuyệt vọng và buộc các nhà tư bản phải quỳ gối?
Marx không chỉ tuyên bố rằng một cuộc cách mạng xã hội sẽ nổ ra. Ông mô tả một
cách cẩn thận những mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta
sẽ khảo sát năm “quy luật” hoặc “khuynh hướng” dẫn tới sự tự sụp đổ từ bên
trong của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chẳng những không hoan nghênh chủ nghĩa
tư bản, bàn tay vô hình rút cục lại phá tan nó.
1.Tỷ suất lợi
nhuận giảm xuống và sự tích lũy tư bản. Cũng như Adam Smith, Marx nhận
thấy nhà tư bản đương đầu với sự cạnh tranh. Nếu một công ty mở rộng quy mô sản
xuất của mình, nó có thể sản xuất hiệu quả hơn. Công ty nào có khả năng đổi mới
sẽ ép buộc các đối thủ cạnh tranh của nó phải phát triển hơn. Các công ty thuê
mướn nhiều công nhân hơn. Nhưng điều đó lại làm tăng tiền lương lên vượt mức đủ
sống. Các ông chủ làm gì? Họ sẽ thay thế lao động bằng máy móc. Nếu họ không
làm điều đó, lợi nhuận của họ sẽ giảm xuống. Bởi vì trả cao hơn sẽ tạm thời
chấm dứt sự bóc lột của họ đối với công nhân. Sự cạnh tranh bắt buộc họ phải
thay thế như vậy.
Nhưng ở đây các
ông chủ khôn ngoan hơn và họ bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Các khoản
thặng dư chỉ có thể bóp nặn được từ con người. Những nhà tư bản bán máy móc có
thể đòi trả giá đúng và đủ cho các sản phẩm của họ. (Nếu một thiết bị in tráng
phim tốc độ cao tăng doanh thu cho công ty vì nó có thể in tráng nhiều ảnh hơn
trong một giờ thì nhà sản xuất thiết bị đó có thể tính một mức giá mới cho công
ty làm ảnh) Hãy nhìn lại công thức về tỷ suất lợi nhuận s/[c + v] của Marx.
Bằng cách cộng thêm máy móc [c], các nhà tư bản làm giảm lợi nhuận của mình.
Mặt khác của tình thế khó xử này là nếu họ chống lại việc đưa thêm máy móc vào
sử dụng, không ai sẽ mua những sản phẩm không cạnh tranh của họ:
Ngoài ra, sự
phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho sự tăng thêm không ngừng
của số tư bản bỏ vào một xí nghiệp công nghiệp trở thành một sự tất yếu, và
cạnh tranh làm cho những quy luật bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài có tính chất cưỡng chế đối với mỗi một
nhà tư bản cá biệt. Cạnh tranh buộc nhà tư bản không ngừng mở rộng tư bản để
giữ được tư bản, và hắn chỉ có thể mở rộng tư bản của mình bằng cách tích lũy
ngày càng nhiều hơn mà thôi…
Hãy tích lũy
đi, hãy tích lũy đi! Đó chính là Moses và các nhà tiên tri … Cho nên, hãy để
dành đi, hãy để dành đi, nghĩa là hãy biến một phần thật nhiều giá trị thặng dư
hay sản phẩm thặng dư trở lại thành tư bản! 23
Một kết cục
tương tự xảy ra nếu một nhà tư bản nâng cấp một cái máy. Người chủ nào tạo ra
được một chiếc máy may tốt hơn có thể đưa ra giá thấp hơn cho sản phẩm của
mình. Bởi vì các ông chủ phải ganh đua với nhau nên các đối thủ cạnh tranh phải
dành dụm những khoảng thặng dư moi được từ lao động và đầu tư vào máy may mới.
“Lòng tham
không đáy” của nhà tư bản buộc họ phải bị hủy diệt. Để tránh thua lỗ, các ông
chủ cố gắng bóc lột lao động thậm tệ hơn nữa. Bằng cách nào? Họ sẽ tăng tốc độ
làm việc. Và họ sẽ kéo dài ngày lao động hơn nữa. Tất nhiên, những chiến thuật
này chỉ kéo dài hơn sự chịu đựng của người lao động một cách nguy hiểm.
2.Sự tập trung
cao độ quyền lực kinh tế. Khi các nhà tư bản buộc phải mở rộng và phát
triển thì cuộc chiến sẽ diễn ra ngày càng ác liệt. Những công ty lớn nhất,
những công ty có giá thành sản xuất rẻ hơn sẽ chiến thắng. Cuộc chiến đẫm máu
“bao giờ cũng chấm dứt bằng sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ, tư bản của họ
một phần lọt vào tay những kẻ chiến thắng, một phần bị tiêu vong”.24 Những kẻ
sống sót sẽ nhanh chóng hạ gục kẻ bại trận.
3.Khủng hoảng
và suy thoái sâu sắc. “Những lời nhảm nhí con nít … rác rưởi … vô lý bịp
bợm.” Marx dùng những từ này để mô tả lập luận của Say về tính ổn định của chủ
nghĩa tư bản. Khi các nhà tư bản sử dụng máy móc thay thế cho lao động, nạn
thất nghiệp tăng lên. Ai mua hàng hóa khi các ông chủ mở rộng sản xuất? Không
ai cả. Hàng hóa không bán được. Nạn phá sản tăng vọt. Sự hoảng loạn xuất hiện
khắp mọi nơi. Các nhà tài phiệt bán tống bán tháo những cổ phần họ nắm giữ. Đầu
tư tụt xuống. Các nhà đầu tư nhảy lầu. Dĩ nhiên, chu kỳ sẽ bắt đầu một chu
trình mới sau khi giá cả tụt xuống. Những kẻ sống sót sẽ lại thu gom những
doanh nghiệp phá sản và thuê mướn lại những người công nhân tuyệt vọng. Các
khoản thặng dư và lợi nhuận xuất hiện trở lại. Nhưng chỉ để suy thoái nhanh hơn
và sâu hơn nữa ở lần kế tiếp.
4.Đội quân dự
bị công nghiệp. Nhờ sử dụng máy móc thay thế lao động và suy thoái, các
nhà tư bản càng ngày càng ném nhiều người hơn ra đường. “Đội quân” này không
mang tính chiến đấu hơn Đội quân Cứu tế lúc ban đầu. Chừng nào mà đội quân này
còn bình tĩnh thì nó vẫn còn là một nguồn lao động giá rẻ. Sự thừa thãi công
nhân giúp các nhà tư bản kiểm soát được tình hình lúc ban đầu.
5.Bần cùng hóa
giai cấp vô sản. “Con số những tên trùm tư bản tiếm đoạt và nắm độc quyền
tất cả những cái lợi của quá trình chuyển hóa đó ngày càng giảm đi không ngừng
… thì nạn nghèo khổ, áp bức, nô dịch, thoái hóa, bóc lột càng tăng thêm”25.
Ngày làm việc dài hơn và ít kỳ nghỉ hơn chỉ đem lại sự bần cùng hơn cho những
người lao động bị chà đạp. Những tác phẩm trước đó của Marx lập luận rằng mức
sống tuyệt đối của họ tụt xuống. Nhưng trong cuốn Tư Bản, được viết khi
ông vấp phải những bằng chứng cho thấy mức sống tuyệt đối của công nhân tăng
hơn trước thì ông rút lại, thừa nhận rằng những người công nhân chỉ có một phần
nhỏ hơn của sự thịnh vượng so với trước.
Cuối cùng, sau
nạn thất nghiệp, sa sút lợi nhuận, sự tuyệt vọng vô nhân đạo và sự bần cùng,
giai cấp vô sản sẽ nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Cái mặt nạ của thượng
tầng kiến trúc sẽ bị lột bỏ. Con quái vật xấu xa mà người ta gọi là chủ nghĩa
tư bản sẽ lộ rõ. Quần chúng bị áp bức sẽ vùng lên: “Giờ tận số của chế độ tư
hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt lại.”26
Giai cấp vô sản
sẽ giành được nhiều thứ hơn là các công xưởng. Họ giành lại được con người thật
của họ. Các nhà tư bản không chỉ cướp đoạt túi tiền của người vô sản. Họ còn
cướp đi cả trái tim và khối óc. Đối với Marx, lao động đóng một vai trò quan
trọng trong cuộc sống của con người. Con người bị ép buộc phải tạo nên và
nâng cao cuộc sống của mình thông qua tự nhiên và các mối quan hệ với người
khác. Nhân cách của con người không thể phát triển nếu không làm việc sáng tạo.
Dưới chủ nghĩa tư bản, lao động chỉ là một loại hàng hóa mà thôi. Con người bị
buộc ép buộc phải chấp nhận những công việc thường lệ và tẻ nhạt. Họ trở thành
những công cụ sống. Họ cảm thấy lạc lõng với chính họ, với thế giới và với
người khác. Sự lạc lõng trở thành một chủ đề nổi bật của những nhà Marxist và
những chỉ trích của những người theo thuyết hiện sinh đối với xã hội hiện đại.
Trong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels hối thúc những người vô sản nắm lấy nền
kinh tế và giải phóng chính mình:
Những người
cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của
mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách
dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp
thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách
mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc
họ. Họ sẽ giành được cả thế giới.
Vô sản tất cả
các nước, đoàn kết lại! 27
Gần 20 năm sau
sự ra đời của cuốn Tư Bản, những người vô sản mới có thể hậu thuẫn cho
những khẩu hiệu súc tích của mình bằng những phân tích sắc sảo.
Nhưng điều gì xảy ra sau cách mạng? Có phải tất cả mọi người đều vui vẻ và
hưởng thụ trong xã hội mới hình thành? Có phải tất cả mọi người đều ngồi xung
quanh đống lửa trại, tay nắm tay và hát “Cum-Ba-Ya”? Một vài nhà Marxist đương
thời có lẽ làm cho người ta nghĩ vậy.
Rõ ràng là Marx
coi khinh chủ nghĩa xã hội không tưởng và cười khinh bỉ sự đơn giản quê mùa của
nó. Ông ta là một người vô cảm. Ông khinh bỉ niềm khát khao mong mỏi sự phân
phối thu nhập “công bằng” hay sự tái phân phối tài sản quy mô lớn. Những người
công nhân, ngay cả dưới chủ nghĩa xã hội, cũng không được hưởng “đủ giá trị”
lao động của mình. Tuy nhiên, khoản thặng dư sẽ tới tay “nhân dân” thông qua
những dịch vụ tập thể.
Vậy chủ nghĩa
cộng sản thực sự có nghĩa gì? Chúng ta không biết được. Marx đã cố ý né tránh
việc để lại “công thức chế biến” cho những “tiệm ăn tương lai”28. Nếu không có
công thức cụ thể, chủ nghĩa Marx với tư cách là một hệ thống cai trị trở thành
một món xúc xích của chính trị: một cách thức rẻ tiền để biến hội đồng lãnh đạo
trở thành công cụ phục vụ cho một nhóm thiểu số.
Marx cho rằng
cuối cùng thì nhà nước sẽ “tiêu vong”. Đồng thời nền chuyên chính của giai cấp
vô sản sẽ thống trị. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bao gồm một kế
hoạch mười điểm để thực thi “sự xâm phạm một cách chuyên chế vào quyền sở hữu”:
1. Tước đoạt sở
hữu ruộng đất và trao nộp địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
2. Áp dụng thuế
lũy tiến cao.
3. Xóa bỏ quyền
thừa kế.
4. Tịch thu tài
sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn.
5. Tập trung
tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà
nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung
tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.
7. Tăng thêm số
công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cầy cấy và cải
tạo ruộng đất theo một kế hoạch chung.
8. Thực hành
nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp,
đặc biệt là cho nông nghiệp.
9. Kết hợp nông
nghiệp với công nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm dần dần xóa bỏ sự khác
biệt giữa thành thị và nông thôn bằng cách phân bố dân cư một cách đồng đều hơn
trong cả nước.
10. Giáo dục
công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em
làm trong các công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,
v.v.. 29
Những người
Marxist sau này sẽ phải tự suy nghĩ xem làm thế nào để thực hiện được kế hoạch
đó. Không quá lạc quan về những phong trào xã hội chủ nghĩa bị vỡ vụn ở châu
Âu, Marx đã có lần tuyên bố rằng ông không còn là một nhà Marxist nữa.
Trong Kinh
Thánh, Chúa ngăn cho Moses không vào Miền Đất hứa. Nhưng những người Marxist
không giống như những người Israel,
không có Joshua dẫn đường khi Marx chết vào năm 1883.
Còn tiếp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét